(Thanhhoa.dc.svn): Nội dung kiến nghị: Đề nghị Bộ GD&ĐT có hướng dẫn cụ thể về việc xác định cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông theo Thông tư số 01, 02, 03, 04/2021/TT-BGDĐT quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập của Bộ GDĐT.

Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời như sau: Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao tại Điểm a Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 106/2020/NĐ-CP ngày 10/9/2020, Bộ GDĐT đang nghiên cứu, xây dựng Thông tư hướng dẫn về vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và định mức số lượng người làm việc trong trường mầm non, phổ thông công lập. Cho tới khi có hướng dẫn mới, Bộ GDĐT đề nghị cử tri kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương giữ nguyên cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp mà trường mầm non, phổ thông công lập đã xác định và được phê duyệt gần nhất tại Đề án vị trí việc làm của đơn vị. Trường hợp cần thiết phải điều chỉnh về cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp, Bộ GDĐT đề nghị cử tri kiến nghị với cơ quán có thẩm quyền chỉ đạo các trường mầm non, phổ thông công lập điều chỉnh Đề án vị trí việc làm theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 106/2020/NĐ-CP bảo đảm phù hợp với đặc điểm vùng miền và từng cơ sở giáo dục.

-Nội dung kiến nghị: Đề nghị Bộ NN&PTNT nghiên cứu, tham mưu trình Chính phủ xem xét, điều chỉnh Tiêu chí số 17.1 theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025 cho phù họp với điều kiện của các huyện khu vực miền núi Thanh Hóa tương đương với khu vực Trung du miền núi phía Bắc và vùng Tây nguyên.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời như sau: Tại Điều 1, Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021 - 2025 đã quy định: "Đối với các xã đặc biệt khó khăn, xã an toàn khu thuộc huyện nghèo và huyện vừa thoát nghèo giai đoạn 2018 - 2020, mức đạt chuẩn nông thôn mới hoặc đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao được áp dụng theo quy định đạt chuẩn đối với vùng Trung du miền núi phía Bắc". Do vậy, đề nghị UBND tỉnh Thanh Hoá chỉ đạo, rà soát, xác định danh sách các xã khu vực miền núi Thanh Hoá nằm trong danh sách các xã đặc biệt khó khăn, xã an toàn khu thuộc huyện nghèo và huyện vừa thoát nghèo giai đoạn 2018-2020 để áp dụng mức đạt chuẩn nông thôn mới hoặc đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao theo quy định đạt chuẩn đối với vùng Trung du miền núi phía Bắc.

- Nội dung kiến nghị: Đề nghị Bộ Nội vụ tham mưu Chính phủ xem xét, nghiên cứu biên chế chức danh Văn phòng cấp ủy cơ sở chuyên trách. Tiếp tục thực hiện bố trí sắp xếp cán bộ, công chức cấp xã dôi dư sau khi sáp nhập các xã, phường, thị trấn.

Bộ Nội vụ trả lời như sau: Về biên chế chức danh Văn phòng cấp ủy cơ sở chuyên trách: Chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp xã đã được quy định tại Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Đồng thời, theo quy định tại Điểm 17.1 Khoản 7 Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 28/9/2021 của Ban Bí thư về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng đã quy định tổ chức cơ sở đảng không thành lập cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc, cấp ủy phân công cấp ủy viên phụ trách các mặt công tác văn phòng, tuyên giáo, tổ chức, kiểm tra, dân vận; các thành viên đều kiêm nhiệm. Theo đó, việc bổ sung chức danh Văn phòng đảng ủy cấp xã là cán bộ, công chức cấp xã như kiến nghị của cử tri phải trên cơ sở sửa đổi Hướng dẫn này và Luật Cán bộ, công chức hiện hành. Bộ Nội vụ ghi nhận kiến nghị của cử tri để tổng hợp trình cấp có thẩm quyền khi Ban Bí thư có chủ trương sửa đổi Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 28/9/2021 và Quốc hội có chủ trương sửa đổi Luật Cán bộ, công chức.

 Về bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức dôi dư sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã: Tại khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số 653/2019/UBTVQH14 ngày 12/3/2019 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019-2021 đã quy định UBND cấp tỉnh quyết định danh mục, số lượng vị trí việc làm và tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo các nghị quyết, kết luận của Đảng, quy định của Nhà nước và phù họp với thực tế. Chậm nhất là 05 năm kể từ ngày nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đối với từng đơn vị hành chính có hiệu lực thi hành thì số lượng lãnh đạo, quản lý và số lượng công chức, viên chức ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở đơn vị hành chính mới bảo đảm đúng theo quy định.

- Nội dung kiến nghị: Theo quy định tại Khoản 12 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chỉ tiết thi hành Luật Đất đai: Trường hợp được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất một số năm hoặc miễn toàn bộ thời gian sử dụng đất đối với dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện giao đất, cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, không thông qua đẩu thầu dự án /có sử dụng đất. Như vậy, dự án thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn thông thường tập trung là dự án đầu tư thuộc Danh mục ngành nghề ưu đãi đầu tư tại Mục B phụ lục II kèm theo Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ, được miễn tiền thuê đất theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 19 Nghị định số 46/2014/ND-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thuộc trường hợp được nhà nước cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, không thông qua đấu thầu dự án có sử dụng đất theo quy định tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ (nêu trên). Tuy nhiên, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 và khoản 1 Điều 16 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 (được sửa đổi tại Điều 108, Nghị định số 31/2021/NĐ-CP) thì dự án thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn thông thường tập trung là dự án xã hội hóa, nên thuộc trường hợp phải đấu thầu dự án có sử dụng đất, dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong thực hiện tại địa phương. Do đó, đề nghị Chính phủ chỉ đạo các đơn vị liên quan tham mưu, sửa đổi Nghị định số 25/2020/NĐ- CP, Nghị định số 31/2021/NĐ-CP và Nghị định số 148/2020/NĐ-CP của Chính phủ cho phù hợp, nhằm giải quyết nhanh các dự án trong lĩnh vực xã hội hóa, đặc biệt là lĩnh vực thu gom, vận chuyển, xử lý chát thải rắn thông thường, các vẩn đề về rác thải tại địa phương.

Bộ kế hoạch và Đầu tư trả lời như sau: Đối với dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích xã hội hóa (bao gồm dự án thuộc lĩnh vực môi trường), trường hợp dự án được xác định không phải đấu giá, đấu thầu theo quy định tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 148/2021/NĐ-CP, UBND chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời chấp thuận nhà đầu tư theo quy định tại khoản 4 Điều 29 và điểm a khoản 1 Điều 32 Luật Đầu tư. Tuy nhiên, khi có từ hai nhà đầu tư trở lên cùng nộp hồ sơ hợp lệ đề nghị thực hiện dự án đầu tư tại một địa điểm thì cơ quan chấp thuận chủ trương đầu tư xem xét, chấp thuận chủ trương đầu tư và giao cơ quan nhà nước có thẩm quyền chọn áp dụng pháp luật về đấu thầu để tổ chức lựa chọn nhà đầu tư trong số những nhà đầu tư đã nộp hồ sơ hợp lệ theo quy định tại khoản 7 Điều 29 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

- Nội dung kiến nghị: Theo quy định của Luật Khoáng sản, các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Khoáng sản và các quy định của pháp luật có liên quan (Luật Đầu tư, Luật Đất Đai, Luật Bảo vệ Môi trưởng, Luật Lâm nghiệp...), trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp phép hoạt động khoảng sản rất phức tạp, kéo dài ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Chưa quy định cụ thế đổi vói loại khoáng sản đặc thù như đất làm vật liệu san lấp, dẫn đến việc cấp phép thăm dò, khai thác các mỏ làm vật liệu san lap mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến việc cung cấp vật liệu thi công các dự án quan trọng của Quốc gia trên địa bàn. Do đó, đề nghị nghiên cứu trình Quốc hội xem xét, sửa đổi Luật Khoảng sản trong đó quy định về trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản, nhất là cần có quy định riêng về trình tự, thủ tục, thành phần hồ sơ cấp phép thăm dò, khai thác đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng theo hướng đơn giản, rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục hành chính

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau: Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận kiến nghị của cử tri để đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Khoáng sản và văn bản hướng dẫn trong thời gian tới.

 - Nội dung kiến nghị: Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 52 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/02/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: "Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và kho tàng quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 53 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, khoảng cách an toàn về môi trường là khoảng cách tối thiểu từ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và kho tàng đến công trình hiện hữu và hợp pháp của khu dân cư gồm nhà ở riêng lẻ, nhà chung cư, công trình giáo dục, y tế để bảo đảm an toàn về môi trường". Tuy nhiên, Nghị định chưa quy định về khoảng cách từ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và kho tàng đến các công trình nằm trong quy hoạch hoặc đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, đề nghị bổ sung quy định khoảng cách an toàn về môi trường đến các công trình nằm trong quy hoạch đã được phê duyệt, làm cơ sở nghiên cứu khi xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư dự án, quyết định đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau: Khoảng cách an toàn về môi trường quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 52 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 là khoảng cách tối thiểu từ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và kho tàng đến công trình hiện hữu và hợp pháp của khu dân cư gồm nhà ở riêng lẻ, nhà chung cư, công trình giáo dục, y tế để bảo đảm an toàn về môi trường và không quy định khoảng cách từ cơ sở, kho tàng đến các công trình nằm trong quy hoạch hoặc đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc bổ sung quy định khoảng cách an toàn về môi trường đến các công trình nằm trong quy hoạch đã được phê duyệt là không khả thi do tình trạng quy hoạch treo hoặc không thực hiện quy hoạch theo phê duyệt.

- Nội dung kiến nghị: Theo quy định tại mục II. 6 phụ lục IV kèm theo Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/02/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: Dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa (diện tích chuyển đối thuộc thẩm quyền chấp thuận của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật đất đai) thuộc đối tượng lập Báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM), trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Như vậy, các dự án phải chuyển mục đích đất lúa, diện tích nhỏ (như xây dựng các nhà văn hóa, đường giao thông trong xã, thôn, cầu, cống của xã, các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ...) không phát sinh nhiều chất thải cũng thuộc trường hợp phải lập ĐTM là chưa phù họp với điều kiện thực tế và chưa sát với quan điểm của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 (phân loại dự án để giảm bớt thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, chỉ những dự án có mức độ ô nhiễm môi trường cao mới phải làm ĐTM). Tương tự như vậy, đối với các dự án khai thác, sử dụng tài nguyên nước thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân tỉnh (cấp phép khai thác, sử dụng trên 10m3 nước/ngày đêm dưới đất) được quy định tại mục 9 phụ lục IV kèm theo Nghị định số 08/2022/ND-CP cũng thuộc trường hợp phải lập báo cáo ĐTM, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt là chưa phù hợp. Do đó, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường có hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp trên và xem xét điều chỉnh các quy định cho phù họp với thực tế, đảm bảo mục tiêu cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ.

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau: Một trong những yêu cầu khi chỉnh sửa pháp luật về bảo vệ môi trường là cố gắng đồng bộ quy định pháp luật về bảo vệ môi trường với các quy định trong pháp luật về đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên biển, xây dựng, đầu tư... nhằm thuận lợi trong việc đồng bộ các thủ tục hành chính về cùng một cấp quản lý đảm bảo mục tiêu cải cách thủ tục hành chính. Xuất phát từ quan điểm nêu trên, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định các Dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa thuộc thẩm quyền chấp thuận của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật đất đai và các dự án khai thác, sử dụng tài nguyên nước thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thuộc đối tượng phải lập báo cáo ĐTM trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Việc quy định cận dưới nhỏ trong quy định pháp luật về đất đai, tài nguyên nước dẫn đến nhiều Dự án thuộc đối tượng phải lập báo cáo ĐTM trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt sẽ được giải quyết khi sửa đổi các quy định pháp luật về đất đai, tài nguyên nước.

- Nội dung kiến nghị: Đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định đối với trường hợp xác định lại diện tích đất ở của hộ gia đình cá nhân trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 01/7/2014 đối với trường hợp không có một trong các loại giấy tờ theo quy định Khoản 1, 2, 3 Điều 100, Luật Đất đai 2013; Điều 18, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chỉnh phủ và ban hành danh mục thủ tục hành chính để có cơ sở thực hiện

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau: Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành (tại Điểm b Khoản 5 Điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) thì trường hợp tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận trước đây mà người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 Luật Đất đai và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một điều của Luật Đất đai nhưng diện tích đất ở chưa được xác định theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều 103 Luật Đất đai, Khoản 3 Điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và chưa được xác định lại theo quy định tại Điểm b và điểm c Khoản 1 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003, nay người sử dụng đất có đon đề nghị xác định lại diện tích đất ở hoặc khi Nhà nước thu hồi đất thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều 103 Luật Đất đai và Khoản 3 Điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Tuy nhiên, người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nêu trên thì không có cơ sở để xem xét việc xác định lại diện tích đất ở.

Vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Trên cơ sở đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao nhiệm vụ sửa đổi Luật Đất đai, trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ nghiên cứu ý kiến của cử tri để rà soát, hoàn thiện.

- Nội dung kiến nghị: Đề nghị nghiên cứu trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Viễn thông theo hướng mở rộng phạm vi và đối tượng điều chỉnh để phù hợp với sự phát triển của nền công nghiệp 4.0, kinh tế số, hoạt động giao dịch điện tử. Do thực tiễn hiện nay xuất hiện các loại hình dịch vụ mới, mô hình kinh doanh mới; yêu cầu hạ tầng viễn thông mở rộng thêm các cấu phần mới để đáp ứng nhu cầu của nền kỉnh tế số, dẫn đến việc cần phải mở rộng phạm vi quản lý của lĩnh vực viễn thông.

Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời như sau: Ngày 13/6/2022, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 50/2022/QH15 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, trong đó Luật Viễn thông đã được Quốc hội phê duyệt đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023. Tại Hồ sơ đề nghị sửa đổi Luật Viễn thông, Bộ TT&TT đã đề xuất sửa đổi, bổ sung các chính sách theo hướng mở rộng phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Luật, bổ sung thêm thành phần trung tâm dữ liệu vào cơ sở hạ tầng viễn thông và có chính sách quản lý, thúc đẩy kinh doanh dịch vụ trung tâm dữ liệu để phù hợp với xu thế mói và đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Ngoài ra, Bộ TT&TT cũng đã đề xuất phân chia rõ phạm vi của các Luật có liên quan như Luật Giao dịch điện tử sửa đổi, Luật Công nghiệp công nghệ sổ để đảm bảo không chồng chéo. Bộ TT&TT sẽ tiếp tục nghiên cứu các nội dung cụ thể trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Viễn thông sửa đổi.

- Nội dung kiến nghị: Đề nghị nghiên cứu trình Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản năm 2012 quy định cụ thể về việc xuất bản tài liệu không kinh doanh và việc đưa xuất bản phẩm lên trang thông tin điện tử làm cơ sở để tổ chức thực hiện.

Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời như sau: Đối với xuất bản tài liệu không kinh doanh, pháp luật xuất bản hiện nay đã quy định cụ thể như sau:

+ Điều 25, Luật Xuất bản quy định:

“1. Việc xuất bản tài liệu không kinh doanh mà không thực hiện qua nhà xuất bản thì phải được cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản sau đây cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh:

a) Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh của cơ quan, tổ chức ở trung ương và tổ chức nước ngoài;

b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh của cơ quan, to chức khác có tư cách pháp nhân, chi nhánh, văn phòng đại diện tại địa phương của cơ quan, tổ chức ở Trung ương.

2. Tài liệu không kinh doanh phải phù hợp chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tẻ chức đề nghị cấp giấy phép xuất bản.

3. Chính phủ quy định danh mục tài liệu không kinh doanh được cấp giấy phép xuất bản.

4. Cơ quan, tổ chức để nghị cấp giấy phép xuất bàn tài liệu không kinh doanh lập hồ sơ gửi cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản quy định tại khoản 1 Điều này và nộp phí thẩm định nội dung tài liệu để cấp giấy phép. Hồ sơ bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp giấy phép;

b) Ba bản thảo tài liệu; trường họp tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch bằng tiếng Việt. Đối với tài liệu để xuất bản điện tử, phải lưu toàn bộ nội dung vào thiết bị số;

c) Bản sao có chứng thực giấy phép hoạt động do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp đổi với tổ chức nước ngoài.

5. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản quy định tại khoản 1 Điều này phải cấp giấy phép xuất bản, đóng dấu vào ba bản thảo tài liệu và lưu lại một bản, hai bản trả lại cho tổ chức đề nghị cấp phép; trường hợp không cấp giấy phép phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.

6. Cơ quan; tổ chức được cấp giấy phép xuất ban tài liệu không kinh doanh có trách nhiệm:

a) Thực hiện đúng giấy phép xuất bản được cấp;

b) Bảo đảm nội dung tài liệu xuất bản đúng với bản thảo tài liệu được cấp giấy phép;

c) Thực hiện ghi thông tin trên xuất bản phẩm theo quy định tại Điều 27 của Luật này;

d) Nộp lưu chiểu tài liệu và nộp cho Thư viện Quốc gia Việt Nam theo quy định tại Điều 28 của Luật này;

đ) Thực hiện việc sửa chữa, đình chỉ phát hành, thu hồi hoặc tiêu hủy đối với tài liệu xuất bản khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

e) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tài liệu được xuất bản

+ Điều 12, Nghị định số 195/2014/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Xuất bản quy định:

“1. Tài liệu không kỉnh doanh dược cấp giấy phép xuất bản theo quy định tại Điều 25 Luật xuất bản bao gồm:

a) Tài liệu tuyên truyền, cổ động phục vụ nhiệm vụ chính trị, các ngày kỷ niệm lớn và các sự kiện trọng đại của đất nước;

b) Tài liệu hướng dẫn học tập và thi hành chủ trương đường lối, chinh sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;

c) Tài liệu hướng dẫn các biện pháp phòng chổng thiên tai, dịch bệnh và bảo vệ môi trường;

d) Kỷ yếu hội thảo, hội nghị, ngành nghề của các cơ quan, tổ chức Việt Nam;

đ) Tài liệu giới thiệu hoạt động của các cơ quan, tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam;

e) Tài liệu lịch sử đảng, chính quyền địa phương; tài liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương sau khi có ý kiến của tổ chức đảng, cơ quan cấp trên.

2. Thẩm quyền cấp giấy phép xuất bàn tài liệu không kinh doanh thực hiện theo quy định tại Khoản 1. Điều 25 Luật Xuất bản.

Đối với tài liệu của các đơn vị quân đội nhân dân, công an nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản cấp giấy phép xuất bản sau khi có ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hoặc cơ quan được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ủy quyền.

3. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết về hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh đối với các tài liệu quy định tại Khoản 1 Điều này.”

+ Điều 10, Thông tư số 01/2020/TT-BTTTT của Bộ TT&TT quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Xuất bản và Nghị định sổ 195/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về hồ sơ và thủ tục.

Như vậy, hiện nay pháp luật đã quy định cụ thể về quy trình, thủ tục, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với việc xuất bản tài liệu không kinh doanh. Tuy nhiên, qua phản ánh của một số cơ quan quản lý địa phương đã phát sinh một số bất cập. Hiện nay, Bộ TT&TT đã chỉ đạo đơn vị chuyện môn triển khai các bước để tiến hành Tổng kết 10 năm thi hành Luật Xuất bản. Căn cứ kết quả đánh giá việc thi hành Luật Xuất bản và các đề xuất, kiến nghị, Bộ TT&TT sẽ tổng hợp nội dung cần sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản phù hợp với tình hình thực tiễn và thúc đẩy phát triển ngành xuất bản, in, phát hành, trình Chính phủ đưa vào chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội trong thời gian tới.

- Đối với việc đưa xuất bản phẩm lên trang thông tin điện tử:

Việc đưa xuất bản phẩm lên trang thông tin điện tử để thực hiện hoạt động phát hành phải thực hiện theo các quy định tại Điều 35, Luật Xuất bản về hoạt động phát hành xuất bản phẩm và Điều 36, Luật Xuất bản về điều kiện hoạt động phát hành. Ngoài ra, nếu đưa xuất bản phẩm dưới dạng điện tử lên trang thông tin điện tử phải đảm bảo thực hiện đúng quy định tại Điều 45, Điều 46 Luật Xuất bản về phát hành xuất bản phẩm điện tử; đồng thời, bảo đảm thực hiện các quy định pháp luật về trang thông tin điện tử. Tuy nhiên, qua phản ánh của cử tri, một số quy định về phát hành điện tử xuất hiện bất cập. Bộ TT&TT đã chỉ đạo đơn vị chuyên môn triển khai các bước để tiến hành Tổng kết l0 năm thi hành Luật Xuất bản. Căn cứ kết quả đánh giá việc thi hành Luật Xuất bản và các đề xuất, kiến nghị, Bộ TT&TT sẽ tổng hợp nội dung cần sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản phù hợp với tình hình thực tiễn và thúc đẩy phát triển ngành xuất bản, in, phát hành, trình Chính phủ đưa vào chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội trong thời gian tới.

- Nội dung kiến nghị: Đề nghị nghiên cứu trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí năm 2016; trong đó, bổ sung quy định một số nội dung như: (i) loại hình báo chí, tạp chí nào được mở Văn phòng đại diện, cử phóng viên thường trú tại các địa phương; số lượng phóng viên của các văn phòng đại diện; điều kiện về tài chính đối với việc thành lập văn phòng đại diện, phóng viên thường trú; về việc giải thể cơ quan báo chí về cơ chế đặt hàng báo chí; sử dụng thẻ phóng viên, giấy giới thiệu... (ii) phân cấp trách nhiệm cho cơ quan quản lý tại địa phương đối với hoạt động báo chí, như việc cấp phép và quản lý văn phòng đại diện, phóng viên thường trú; (iii) trách nhiệm của cơ quan chủ quản báo chí, cơ quan báo chí trong việc đảm bảo điều kiện và giám sát hoạt động của các văn phòng đại diện tại các địa phương; (iv) về liên kết hoạt động bảo chí trên các nền tảng số.

Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời như sau: Luật Báo chí năm 2016 đã có quy định về việc thành lập cơ quan báo chí (Khoản 3, Điều 18), Văn phòng đại diện, phóng viên thường trú (Điều 22), liên kết trong hoạt động báo chí (Điều 37). Tuy nhiên, Luật Báo chí chưa quy định cụ thể loại hình báo chí, tạp chí nào được mở Văn phòng đại diện, cử phóng viên thường trú tại các địa phương; số lượng phóng viên của các văn phòng đại diện; điều kiện về tài chính đối với việc thành lập văn phòng đại diện, phóng viên thường trú; về việc giải thể cơ quan báo chí; về cơ chế đặt hàng báo chí; sử dụng thẻ phóng viên, giấy giới thiệu; phân cấp trách nhiệm cho cơ quan quản lý tại địa phương đối với hoạt động báo chí, như việc cấp phép và quản lý văn phòng đại diện, phóng viên thường trú; trách nhiệm của cơ quan chủ quản báo chí, cơ quan báo chí trong việc đâm bảo điều kiện và giám sát hoạt động của các văn phòng đại diện tại các địa phương; liên kết hoạt động báo chí trên các nền tảng số như phản ánh của cử tri.

Liên quan đến vấn đề này, ngày 30/3/2022, Bộ TT&TT có Báo cáo số 57/BC-BTTTT báo cáo Chính phủ về kết quả nghiên cứu, rà soát Luật Báo chí năm 2016 và kiến nghị sửa đổi, bổ sung; trong đó đã nêu ra một số nội dung quy định bất cập, không phù hợp thực tiễn về văn phòng đại diện, phóng viên thường trú, đội ngũ phóng viên, giải thể cơ quan báo chí, đặt hàng báo chí, liên kết trong hoạt động báo chí... Ghi nhận ý kiến của cử tri, trong thời gian tới đây, khi sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí năm 2016, Bộ TT&TT sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền về những vấn đề nêu trên.

(Lê Nguyễn Trọng Xuân - Văn phòng Tỉnh uỷ Thanh Hoá)