Ngày 17/9/2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cây cao su là cây đa mục đích, tại thời điểm đó cây cao su mang lại hiệu quả kinh tế cao, vì vậy trong giai đoạn 2008-2013, diện tích cao su trên địa bàn tỉnh liên tục được mở rộng, mỗi năm trồng mới hàng nghìn ha. Tuy nhiên, từ sau năm 2013 đến nay, thị trường mủ cao su thế giới có nhiều biến động, giá mủ xuống thấp, trên địa bàn tỉnh không triển khai trồng mới; nhiều diện tích cao su không được đầu tư chăm sóc dẫn đến sinh trưởng kém, sản lượng nhựa thấp; nhiều hộ đã tự ý chặt bỏ để chuyển sang các cây trồng khác mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Đến hết năm 2015, tổng diện tích cao su toàn tỉnh đã trồng là 17.735 ha, phân bố trên địa bàn 15 huyện, thị xã. Tính đến tháng 5/2021, diện tích cao su trên địa bàn toàn tỉnh còn 6.596,6 ha (giảm 62,8% so với năm 2015), gồm: 4.739,7 ha trồng trên đất quy hoạch lâm nghiệp và 1.856,9 ha trồng trên đất ngoài quy hoạch lâm nghiệp, phân bố trên địa bàn 11 huyện, gồm: Như Xuân 2.579,9 ha; Thạch Thành 1.233,2 ha; Ngọc Lặc 1.018,7 ha; Cẩm Thủy 973,2 ha; Thọ Xuân 413,3 ha; Như Thanh 179,1 ha; Lang Chánh 130,8 ha; Nông Cống 31,9 ha; Thường Xuân 21,3 ha; Triệu Sơn 10,3 ha và Vĩnh Lộc 4,9 ha. Hiện có 10 tổ chức và 1.750 hộ gia đình, cá nhân đang quản lý, khai thác các diện tích cao su, bao gồm: Công ty TNHH MTV Cao su Thanh Hóa 3.276,3 ha; Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Thanh 96,8 ha; Ban Quản lý Rừng phòng hộ Sông Chàng 172,8 ha; Công ty TNHH HTV Lam Sơn 398,1 ha; Công ty TNHH Hồ Gươm Sông Âm 221,7 ha; Công ty TNHH Bò sữa Thống Nhất 24,2 ha; Công ty TNHH Lam Sơn Sao Vàng 77,0 ha; Công ty Mía đường Nông Cống 15,6 ha; Công ty sữa TH True milk 12 ha; Trại giam Thanh Lâm 73,3 ha; các hộ gia đình 2.228,7 ha. Trong 6.596,6 ha diện tích cao su hiện có, diện tích sinh trưởng phát triển tốt, đảm bảo mật độ là 4.333,5 ha; diện tích sinh trưởng kém, trung bình, mật độ cây không đảm bảo là 2.263,1 ha.
Diện tích cao su trên địa bàn tỉnh chủ yếu được trồng trước năm 2015, đến thời điểm hiện tại toàn bộ diện tích đã đến tuổi khai thác mủ. Hiện tại có 5.582,1 ha (chiếm 84,6%) đang được khai thác; còn lại 1.014,5 ha do giá mủ thấp, không đủ chi phí cạo mủ nên các hộ gia đình không thực hiện khai thác. Năng suất mủ cao su trên địa bàn các huyện có sự khác nhau rất lớn, một số nơi năng suất mủ đạt trên 1.000 kg/ha/năm như các huyện: Thạch Thành, Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân; các huyện còn lại chỉ đạt từ 400-600 kg/ha/năm, đặc biệt diện tích cao su tại huyện Lang Chánh có năng suất mủ rất thấp. Về hiệu quả sản xuất, giai đoạn từ năm 2008-2013 giá mủ khá cao, có thời điểm lên đến 50.000-60.000 đồng/kg, thu nhập của người trồng cao su đạt từ 40-50 triệu đồng/ha/năm. Tuy nhiên, từ năm 2013 đến nay giá mủ giảm dần, tại thời điểm tháng 5/2021 giá mủ khoảng 18.000 đồng/kg, giá trị thu được từ 7,2-19,8 triệu đồng/ha/năm; với giá bán này không mang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng cao su. Hiện nay, cao su chủ yếu được nhập cho Công ty Cao su Thanh Hóa, còn lại một phần bán cho các thương lái của tỉnh Nghệ An và Hòa Bình.
Trong thời gian tới cần có giải pháp hiệu quả để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, đảm bảo sản xuất kinh doanh cho các tổ chức, cá nhân đang quản lý, khai thác các diện tích cao su, đồng thời có phương án chuyển đổi diện tích cao su kém hiệu quả để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Đối với diện tích cao su đang sinh trưởng tốt, cần tăng cường áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăm sóc, bảo vệ và khai thác đảm bảo sản lượng, chất lượng mủ; xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư chăm sóc, bảo vệ, khai thác bền vững để nâng cao hiệu quả kinh tế, đồng thời đảm bảo ổn định vùng nguyên liệu phục vụ chế biến; có kế hoạch đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, nhà máy chế biến mủ theo hướng đa dạng sản phẩm để nâng cao giá trị, hiệu quả sản xuất. Đối với diện tích cao su kém hiệu quả, cần có phương án chuyển đổi sang các loại cây trồng khác phù hợp có giá trị kinh tế cao, hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với các cơ sở chế biến tại các địa phương; đồng thời nghiên cứu, có phương án bàn giao một số diện tích đất cho các địa phương quản lý để giải quyết nhu cầu đất ở, đất sản xuất. Tiếp tục tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền tình hình sản xuất, giá cả, thị trường mủ cao su để nâng cao nhận thức cho người trồng cao su, hỗ trợ thông tin tiêu thụ sản phẩm đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh; tập huấn, hướng dẫn, để người dân nắm vững các biện pháp kỹ thuật, quy trình chăm sóc, các loại phân bón phù hợp để tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế của cây cao su; tuyên truyền, vận động tránh việc tự phát chuyển đổi diện tích cao su đang sinh trưởng, phát triển tốt sang cây trồng khác.