(Thanhhoa.dcs.vn): Hiện nay, hệ thống chuẩn đo lường quốc gia đã có 29/45 đại lượng đo thuộc Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1361/QĐ-TTg ngày 08/8/2013, bao gồm: Bảy (07) đại lượng cơ bản: khối lượng, độ dài, thời gian - tần số, cường độ dòng điện, nhiệt độ nhiệt động học, cường độ sáng, lượng chất. Hai mươi hai (22) đại lượng dẫn xuất: Góc phẳng, dung tích, lưu lượng thể tích chất lỏng, lưu lượng khối lượng chất lỏng, lưu lượng thể tích và khối lượng chất khí, vận tốc khí, lực, độ cứng, áp suất, khối lượng riêng chất lỏng, độ nhớt động học, điện áp, điện trở, công suất, điện năng, điện áp xoay chiều, suy giảm tần số cao, mức áp âm thanh, rung động, độ chói, quang thông, phổ truyền.

Các chuẩn đo lường quốc gia được thiết lập, phê duyệt đã làm thay đổi rất cơ bản năng lực đo lường của Việt Nam; nâng cao một cách rõ rệt vị thế của đo lường Việt Nam trong khu vực và quốc tế. Ngoài việc bảo đảm dẫn xuất chuẩn trong nước, Việt Nam đã khẳng định năng lực thực hiện các phép đo mà từ trước vẫn phải phụ thuộc vào nước ngoài như: đo lường điện năng trong mua bán điện với Trung Quốc; đánh giá Biến áp đo lường (TU), Biến dòng đo lường (TI) nhập khẩu trong ngành Điện; đo đếm trong giao nhận dầu thô; đánh giá kỹ thuật trong sản xuất, chế tạo cần cẩu, tầu chở dầu...Đồng thời, khẳng định năng lực tham gia hoạt động đo lường trong khu vực và quốc tế như: tham gia so sánh liên phòng ở cấp quốc tế nhiều lĩnh vực đo; tham gia đấu thầu và thực hiện đo, hiệu chuẩn đo lường, cung cấp dịch vụ đo lường ở một số nước trong khu vực,...

Các chuẩn đo lường quốc gia được phê duyệt đã phát huy tốt vai trò là chuẩn “gốc” của quốc gia và bảo đảm tốt việc duy trì các đơn vị đo lường pháp định của Việt Nam; giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính thống nhất, đúng đắn và chính xác của các phép đo, là cơ sở kỹ thuật hạ tầng để phát triển các ngành khoa học - kỹ thuật, các ngành kinh tế, đảm bảo sự công bằng trong sản xuất kinh doanh, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, vật tư, năng lượng, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi trong hội nhập quốc tế. Phát triển hệ thống chuẩn đo lường quốc gia là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu tạo cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển khoa học và công nghệ, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.

Bước sang giai đoạn mới, với những điều kiện về khoa học kỹ thuật đo lường thay đổi cùng với yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của kinh tế xã hội đối với đo lường, việc xây dựng kế hoạch phát triển chuẩn đo lường quốc gia đến năm 2030 là hết sức cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước, yêu cầu và hội nhập quốc tế. Ngày 24/11/2023, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang đã ký Quyết định số 1488/QĐ-TTg ngày 24/11/2023 phê duyệt “Kế hoạch phát triển chuẩn đo lường quốc gia đến năm 2030”.

Mục tiêu chung nhằm phát triển chuẩn đo lường quốc gia theo hướng hiện đại, đạt trình độ các nước tiên tiến trong khu vực nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý nhà nước về đo lường trong giai đoạn mới, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước.

Giai đoạn 2024 – 2025: phấn đấu duy trì, bảo quản và sử dụng 48 chuẩn đo lường quốc gia của 29 đại lượng đã được phê duyệt theo Quy hoạch phát triển chuẩn đo lường quốc gia đến năm 2020 được ban hành kèm theo Quyết định số 1361/QĐ-TTg ngày 8/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ; đầu tư phát triển mới, bổ sung 08 chuẩn đo lường của 07 đại lượng.

Giai đoạn 2026 – 2030: duy trì, bảo quản và sử dụng các chuẩn đo lường quốc gia của các đại lượng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đầu tư nâng cấp mở rộng phạm vi đo, nâng cao trình độ 09 chuẩn đo lường quốc gia của 08 đại lượng đã được phê duyệt; đầu tư phát triển mới, bổ sung 36 chuẩn đo lường của 23 đại lượng.

Để đạt được các mục tiêu trên, Kế hoạch đặt ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như: Tập trung, ưu tiên nguồn lực triển khai, phát triển các chuẩn đo lường quốc gia được phê duyệt; đào tạo cán bộ; duy trì, bảo quản và sử dụng chuẩn đo lường quốc gia; hợp tác quốc tế. Cùng với đó là phát triển chuẩn đo lường quốc gia đáp ứng các yêu cầu sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, phù hợp với điều kiện duy trì, bảo quản, sử dụng tại Việt Nam, bảo đảm trình độ chuẩn tương đương với trình độ chuẩn của các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN; đạt độ chính xác và phạm vi đo cần thiết tương đương với đặc tính kỹ thuật đo lường của chuẩn đầu (primary standards) hoặc chuẩn thứ (secondary standards), giữ vai trò là chuẩn đo lường quốc gia cho từng lĩnh vực đo tương ứng, bảo đảm tính liên kết của chuẩn tới Hệ đơn vị đo quốc tế (SI), đảm bảo thời hạn hoàn thành. Đồng bộ giữa chuẩn đo lường quốc gia được trang bị với thiết bị sao truyền, thiết bị phụ trợ, bảo đảm chuẩn đo lường quốc gia được dẫn xuất đến chuẩn chính đang sử dụng trong các ngành kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đảm bảo thời hạn hoàn thành.

Chính phủ yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ giao các cơ quan giữ chuẩn đo lường quốc gia xây dựng kế hoạch triển khai đầu tư phát triển chuẩn đo lường theo từng giai đoạn; hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương về việc thiết lập, duy trì, bảo quản, sử dụng chuẩn đo lường chính, bảo đảm liên kết chuẩn, thống nhất chung định hướng phát triển chuẩn đo lường quốc gia; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện thiết lập, duy trì, bảo quản và sử dụng các chuẩn đo lường quốc gia. UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc đầu tư, thiết lập các chuẩn đo lường chính thuộc thẩm quyền quản lý, bảo đảm liên kết chuẩn đến chuẩn đo lường quốc gia; bảo đảm ngân sách phục vụ công tác duy trì, bảo quản và sử dụng các chuẩn đo lường được phân công quản lý theo quy định./.

(Phạm Minh Đức - Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hoá)