(Thanhhoa.dcs.vn): Khu vực 11 huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa có diện tích gần 800.000 ha, dân số khoảng 990 nghìn người (Trong đó có 06 huyện nghèo, gồm: Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh và Thường Xuân), với 175 xã, thị trấn/1.519 thôn, bản, khu phố, trong đó có 43 xã thuộc vùng khó khăn (23 xã khu vực II; 20 xã khu vực III), 308 thôn đặc biệt khó khăn. Toàn vùng có 07 dân tộc chủ yếu cùng sinh sống là: Kinh, Mường, Thái, Thổ, Mông, Dao, Khơ Mú.
Hiện nay, tỉnh đang nỗ lực tạo mọi điều kiện, tập trung nguồn lực để 11 huyện miền núi vươn lên, phát triển kinh tế. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức; song với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh; sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội của 11 huyện miền núi tiếp tục chuyển biến tích cực và đạt kết quả quan trọng, công tác giải quyết việc làm, an sinh xã hội được thực hiện kịp thời, đồng bộ, hiệu quả, góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho mọi người dân.
*Kết quả thực hiện các dự án thành phần thuộc chương trình MTQG giảm nghèo giai đoạn 2021-2023 của 11 huyện miền núi, cụ thể như sau:
(1) Dự án 1: Hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội các huyện nghèo:
(i) Tiểu dự án 1: Hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội các huyện nghèo:
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025; theo đó HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 301/NQ-HĐND ngày 13/7/2022 phân bổ vốn ngân sách Trung ương cho 06 huyện nghèo để thực hiện 59 dự án, với tổng vốn là 1.249.507 triệu đồng (28 dự án chuyển tiếp từ giai đoạn 2016 - 2020; 31 dự án khởi công mới giai đoạn 2021 - 2025); trong đó, Trung ương đã giao 703.026 triệu đồng (năm 2022 là 429.793 triệu đồng; năm 2023 là 273.233 triệu đồng). Tổng vốn đầu tư phát triển Trung ương phân bổ cho 06 huyện nghèo (năm 2022, 2023): 703.026 triệu đồng; tổng vốn sự nghiệp Trung ương phân bổ 06 huyện nghèo (năm 2022, 2023): Hỗ trợ duy tu, bảo dưỡng công trình là 39.843 triệu đồng.
Đến nay, đã thi công hoàn thành 24/28 dự án chuyển tiếp từ giai đoạn 2016-2020 (trong đó, có 08 dự án có quyết toán được duyệt; 16 dự án hoàn thành chưa quyết toán; 02 dự án đang thi công; 02 dự án đã quá hạn nhưng chưa hoàn thành do chưa được chuyển mục đích sử dụng rừng). Đối với 31 dự án khởi công mới giai đoạn 2021 - 2025 có 30 dự án đã được phê duyệt (06 dự án Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt, 24 dự án Chủ tịch UBND huyện phê duyệt).
Kết quả giải ngân vốn đầu tư phát triển đến ngày 20/10/2023 được 397.281 triệu đồng/703.026 triệu đồng, đạt 56,51% kế hoạch; giải ngân vốn sự nghiệp hỗ trợ duy tu, bảo dưỡng các công trình đến 20/10/2023 được 26.598 triệu đồng/39.843 triệu đồng, đạt 66,76% kế hoạch.
(ii) Tiểu dự án 2: Triển khai Đề án hỗ trợ một số huyện nghèo thoát khỏi tình trạng nghèo, đặc biệt khó khăn giai đoạn 2022 - 2025 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: Tỉnh Thanh Hóa được Trung ương bổ sung 222.200 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển 202.000 triệu đồng; vốn sự nghiệp 20.200 triệu đồng) cho huyện Bá Thước, huyện Thường Xuân phấn đấu thoát khỏi tình trạng nghèo, đặc biệt khó khăn. Năm 2023, đã được Trung ương phân bổ 155.280 triệu đồng, gồm: Vốn đầu tư phát triển 141.400 triệu đồng (huyện Thường Xuân 71.430 triệu đồng; huyện Bá Thước 69.970 triệu đồng); vốn sự nghiệp 14.140 triệu đồng (huyện Thường Xuân 7.143 triệu đồng; huyện Bá Thước 6.997 triệu đồng).
HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 365/NQ-HĐND ngày 24/3/2023, phê duyệt: Danh mục dự án đầu tư, gồm 07 dự án (huyện Thường Xuân 02 dự án; huyện Bá Thước 05 dự án); danh mục dự án, công trình duy tu, bảo dưỡng, gồm 07 dự án (huyện Thường Xuân 03 dự án; huyện Bá Thước 04 dự án). Đến nay, UBND huyện Bá Thước đã phê duyệt được 05/05 dự án; UBND huyện Thường Xuân đã phê duyệt 01/02 dự án.
(2) Dự án 2: Đa dạng hóa sinh kế và phát triển mô hình giảm nghèo: Tổng vốn sự nghiệp giai đoạn 2021-2023 phân bổ cho 11 huyện miền núi là 81.119 triệu đồng. Đến nay, đã giải ngân 6.875 triệu đồng, đạt 8,48% kế hoạch để xây dựng 33 dự án hỗ trợ cho 453 hộ nghèo, 211 hộ cận nghèo và 19 hộ mới thoát nghèo.
(3) Dự án 3: Hỗ trợ phát triển sản xuất, cải thiện dinh dưỡng:
(i) Tiểu dự án 1: Hỗ trợ phát triển sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp: Tổng vốn sự nghiệp giai đoạn 2021-2023 phân bổ là 44.035 triệu đồng. Đã tổ chức thực hiện hỗ trợ thông qua 56 dự án (09 dự án trồng trọt, 46 dự án chăn nuôi, 01 dự án nuôi trồng thủy sản), có 2.131 hộ gia đình được hỗ trợ (1.554 hộ nghèo, 576 hộ cận nghèo, 01 hộ mới thoát nghèo); giải ngân 6.583 triệu đồng, đạt 14,95%/tống số vốn được giao.
(ii) Tiểu dự án 2: Cải thiện dinh dưỡng: Tổng nguồn vốn được phân bổ là: 5.848 triệu đồng, đến nay các huyện đã giải ngân được 1.725 triệu đồng, đạt 29,5% kế hoạch được giao.
(4) Dự án 4: Phát triển giáo dục nghề nghiệp, việc làm bền vững:
(i) Tiểu dự án 1: Phát triển giáo dục nghề nghiệp vùng nghèo, vùng khó khăn: Tổng số vốn được phân bổ là 10.630 triệu đồng, trong đó: UBND 11 huyện là 7.149 triệu đồng; 11 cơ sở GDNN-GDTX là 3.481 triệu đồng. Đến thời điểm báo cáo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (11 cơ sở) mới đang triển khai đề cải tạo, mua sắm trang thiết bị đào tạo theo quyết định của Chủ tịch UBND (chưa giải ngân nguồn vốn). Đối với các huyện đã triển khai thực hiện các hoạt động, gồm: Điều tra, khảo sát, thống kê, dự báo nhu cầu đào tạo, ngành nghề đào tạo; tổ chức các lớp đào tạo nghề trình độ sơ cấp và đào tạo nghề dưới 3 tháng cho người học nghề, lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Đến nay, đã có 06 huyện (Ngọc Lặc, Như Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Mường Lát) đã triển khai thực hiện mở các lớp đào tạo nghề với tổng kinh phí đã giải ngân khoảng 4.911 triệu đồng, đạt 46,2% kế hoạch.
(ii) Tiểu dự án 2: Hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: Tổng vốn trung ương đã phân bổ cho 6 huyện nghèo năm 2022, 2023 là 6.253 triệu đồng. Đến nay đã có huyện Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn và huyện Mường Lát thực hiện, tổng số tiền đã giải ngân khoảng 626 triệu, đạt 10,01% kế hoạch, còn huyện Thường Xuân và huyện Lang Chánh chưa triển khai thực hiện.
(iii) Tiểu dự án 3: Hỗ trợ việc làm bền vững: Số kinh phí được phân bổ năm 2023 là 6.120 triệu đồng, đến nay đã giải ngân được 920 triệu đồng, đạt 15,03% kế hoạch (huyện Bá Thước giải ngân 601,5 triệu đồng, huyện Thạch Thành 319 triệu đồng) thông qua các hoạt động như: tổ chức các phiên giao dịch việc làm; hội nghị tư vấn - giới thiệu việc làm; phối hợp Trung tâm Dịch vụ việc làm khảo sát, thu thập thông tin tìm kiếm việc làm, các địa phương còn lại đang xây dựng dự toán để triển khai thực hiện, các ngành có liên quan đang tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt mức chi thu thập, cập nhật, chỉnh sửa và khai thác thông tin cơ sở dữ liệu về người lao động để hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện.
(5) Dự án 5: Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn huyện nghèo:
UBND tỉnh đã phê duyệt Đề án hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa thuộc Chương trình MTQG Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, với tổng số hộ nghèo được hỗ trợ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở là 6.045 hộ; tổng số hộ cận nghèo được hỗ trợ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở: 2.472 hộ. Trong đó: số hộ đề xuất hỗ trợ xây mới là: 4.637 hộ; số hộ đề xuất hỗ trợ cải tạo là: 3.880 hộ. Tổng kinh phí dự kiến thực hiện trong giai đoạn 2022-2025 là 263.080 triệu đồng.
Năm 2023 đã phân bổ cho 182.140 triệu đồng cho 06 huyện nghèo để tổ chức thực hiện. Các huyện đã tiến hành rà soát, lập danh sách người được hỗ trợ trong năm 2023 theo thứ tự ưu tiên quy định tại Quyết định số 2079/QĐ-UBND ngày 15/6/2023 của UBND tỉnh để tiến hành hỗ trợ theo trình tự, thủ tục quy định, theo đó 06 huyện dự kiến hỗ trợ 4.759 hộ (xây mới 2.471 hộ, sửa chữa 2.278 hộ). Đến thời điểm báo cáo đã hỗ trợ cho 3.385 hộ (xây mới 1.643 hộ, sửa chữa 1.742 hộ) với số tiền đã giải ngân theo tiến độ được 81.708 triệu đồng, đạt 44,86% kế hoạch.
(6) Dự án 6: Truyền thông và giảm nghèo về thông tin:
(i) Tiểu dự án 1: Giảm nghèo về thông tin: Tổng vốn trung ương phân bổ là: 11.253 triệu đồng, trong đó: Phân bổ cho các miền núi là 2.173 triệu đồng; Sở Thông tin - Truyền thông: 9.080 triệu đồng để thực hiện nội dung có tính chất đặc thù.
Các huyện, đã tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ, trang bị, nâng cấp đài truyền thanh cấp xã phục vụ thông tin, tuyên truyền; biên tập và xuất bản ấn phẩm, đặt hàng sản xuất phóng sự tuyên truyền về chính sách giảm nghèo. Đến nay, đã giải ngân được là 875 triệu đồng, đạt 40,26% kế hoạch.
(ii) Tiểu dự án 2: Truyền thông về giảm nghèo đa chiều: Tổng vốn được giao năm 2022-2023 là 2.537 triệu đồng. Các huyện đã đẩy mạnh các hoạt động truyền thông về giảm nghèo với các hình thức phong phú đa dạng; hợp đồng với cơ quan báo chí, truyền hình viết bài, phát phóng sự; tổ chức hội nghị đối thoại chính sách giảm nghèo; xây dựng pano, tờ rơi tuyên truyền, giải ngân nguồn vốn được 1.302 triệu đồng, đạt 51,33% kế hoạch giao.
(7) Dự án 7: Nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá Chương trình:
(i) Tiểu dự án 1: Nâng cao năng lực thực hiện Chương trình: Số vốn được phân bổ năm 2022-2023 cho các huyện là 8.816 triệu đồng. Các huyện đã tích cực tổ chức tập huấn nâng cao năng lực thực hiện Chương trình cho cán bộ làm công tác giảm nghèo. Đến nay đã giải ngân được 5.844 triệu đồng, đạt 66,28% so với kế hoạch.
(ii) Tiểu dự án 2: Giám sát, đánh giá: Các huyện miền núi được phân bổ là 4.702 triệu đồng để tổ chức các cuộc giám sát tại cấp huyện, cấp xã (giám sát việc rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo và việc triển khai thực hiện Chương trình). Đến nay đã giải ngân được 1.655 triệu đồng, đạt 35,2% kế hoạch.
Qua công tác kiểm tra, giám sát đã kịp thời giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện; đôn đốc, hướng dẫn các huyện, thị xã, thành phố khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, tiểu dự án của Chương trình.
*Kết quả thực hiện Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đoạn 2021-2023, cụ thể như sau:
Mục tiêu Tiểu dự án 3 Dự án 5: Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục nghề nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Hỗ trợ lao động là người dân tộc thiểu số tiếp cận thuận lợi với thông tin thị trường lao động, dịch vụ hỗ trợ tìm kiếm, kết nối việc làm; hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp tìm kiếm được việc làm phù hợp với khả năng, nguyện vọng.
Tổng vốn sự nghiệp giai đoạn 2021-2023 phân bổ là 147.666 triệu đồng; trong đó, năm 2022 là 39.992 triệu đồng, năm 2023 là 107.674 triệu đồng; kết quả cụ thể như sau:
(i) Năm 2022: Sở LĐTBXH đã triển khai in ấn và cấp phát 25.000 tờ rơi tuyên truyền về công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề cho người lao động; Tổ chức 06 lớp tập huấn nâng cao năng lực kiến thức khởi nghiệp cho 360 học sinh; tổ chức 02 ngày hội tư vấn hướng nghiệp, khởi nghiệp và hỗ trợ việc làm cho học sinh Trường Trung cấp nghề Thạch Thành và Trường Trung cấp nghề Miền núi; Tổ chức 07 cuộc truyền thông, hướng nghiệp cho hơn 2.100 học sinh tại các trường THCS, THPT và Trung tâm GDNN-GDTX; Tổ chức 6 hội nghị truyền thông hướng nghiệp cho 360 người lao động tại 02 huyện Như Xuân và Quan Hóa. Tổng số vốn đã giải ngân là 527,21 triệu đồng.
Tổng kinh phí được phân bổ từ nguồn vốn sự nghiệp cho 11 huyện khu vực miền núi năm 2022 là 38.992 triệu đồng. Tính đến tháng 9/2023, tổng số vốn sự nghiệp đã giải ngân được 12.509,65 triệu đồng, đạt 32,08% kế hoạch. Các huyện đã tổ chức 154 lớp đào tạo nghề sơ cấp và dưới 3 tháng cho các đối tượng là người dân tộc thiểu số, người kinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo sinh sống tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi; tổ chức 100 buổi tuyên truyền, tư vấn hướng nghiệp, khởi nghiệp, học nghề, việc làm và các dịch vụ hỗ trợ việc làm, đi làm việc ở nước ngoài; hỗ trợ mua sắm trang thiết bị và sửa chữa cơ sở vật chất cho một số trung tâm GDNN-GDTX.
(ii) Năm 2023: Tổng kinh phí được phân bổ từ nguồn vốn sự nghiệp cho 11 huyện khu vực miền núi và Trường trung cấp nghề Miền núi Thanh Hóa năm 2023 là 106,06 triệu đồng. Các huyện đã xây dựng kế hoạch thực hiện năm 2023 và đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nội dung: triển khai các hoạt động truyền thông, tập huấn, tư vấn hướng nghiệp, khởi nghiệp, học nghề, việc làm và các dịch vụ hỗ trợ việc làm, đi làm việc ở nước ngoài; tổ chức các lớp đào tạo nghề…
*Kết quả giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn 11 huyện miền núi năm 2023-2023:
Năm 2022, áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025, tỷ lệ hộ nghèo ở 11 huyện miền núi đã giảm 4,81%, từ 20% xuống còn 15,19% (tương ứng giảm 11.241 hộ, từ 46.470 hộ xuống còn 35.229 hộ). Tỷ lệ hộ cận nghèo giảm 3,35%, từ 20,42% xuống còn 17,07% (tương ứng giảm 7.857 hộ, từ 47.446 hộ xuống còn 39.589 hộ). Tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo đã giảm 5,4%, từ 32,88 xuống còn 27,48%, (tương ứng giảm 4.766 hộ, từ 29.590 xuống còn 24.824 hộ), vượt kế hoạch đề ra (mục tiêu đề ra là giảm từ 4 - 5%).
Theo tổng hợp sơ bộ kết quả rà soát hộ nghèo năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo khu vực 11 huyện miền núi đã giảm 4,05%, từ 15,19% xuống còn 11,14% (tương ứng giảm 9.378 hộ, từ 35.229 hộ xuống còn 25.851 hộ). Tỷ lệ hộ cận nghèo giảm 2,80%, từ 17,07% xuống còn 14,27% (tương ứng giảm 6.461 hộ, từ 39.589 hộ xuống còn 33.128 hộ), vượt kế hoạch đề ra. Dự báo đến năm 2025, mặc dù sẽ gặp những khó khăn, thách thức khó lường nhưng mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm là 1,5% sẽ đạt kế hoạch đề ra.
*Định hướng, giải pháp phát triển khu vực miền núi Thanh Hóa trong thời gian tới:
(1) Tiếp tục quán triệt, tuyên truyền sâu rộng về các nội dung Quyết định số 624-QĐ/TU ngày 23/7/2021 của Tỉnh ủy Thanh Hóa ban hành Chương trình phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi Thanh Hóa, giai đoạn 2021 - 2025, chương trình MTQG giảm nghèo, chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của tỉnh nhằm nâng cao nhận thức, tạo chuyển biến mạnh mẽ của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, của cán bộ, đảng viên và Nhân dân các dân tộc miền núi trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các mục tiêu của Chương trình; đề cao ý chí tự lực, tự cường vươn lên thoát nghèo, xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước trong các hộ nghèo, hộ cận nghèo. Nâng cao tinh thần, trách nhiệm và phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức, các đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn, giúp đỡ người nghèo, hộ nghèo chủ động, tích cực vươn lên thoát nghèo.
(2) Thực hiện kịp thời các giải pháp, chính sách về đào tạo nghề, lao động - việc làm, hỗ trợ phát triển thị trường lao động:
Đẩy mạnh việc triển khai chương trình dạy nghề cho người trong độ tuổi lao động. Có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động thuộc hộ nghèo, dân tộc thiểu số; thúc đẩy sự liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp với các cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề và tuyển dụng lao động; phát triển dạy nghề lưu động, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm đối tượng khó khăn, yếu thế được tham gia học nghề và tự tạo việc làm; hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các chương trình đào tạo, nâng cao kỹ năng, tay nghề.
Thực hiện chương trình giải quyết việc làm đồng bộ, từ khâu hướng nghiệp, đào tạo nghề, tư vấn giới thiệu việc làm, đến hỗ trợ sản xuất. Ưu tiên đào tạo, dạy nghề phát triển nguồn nhân lực cho các ngành mũi nhọn của tỉnh. Phát triển và nhân rộng các mô hình tạo việc làm, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, làng nghề, đặc biệt là các loại hình kinh doanh thu hút nhiều lao động.
Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, làm tốt công tác tuyên truyền, tuyển chọn, huấn luyện, đào tạo nguồn cho xuất khẩu lao động; hỗ trợ kinh phí học nghề, xử lý rủi ro, tăng mức cho vay tín dụng ưu đãi cho lao động tham gia xuất khẩu lao động, nhất là với các đối tượng chính sách. Thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi, tạo việc làm thông qua hoạt động cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm và từ các tổ chức tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
(3) Phát triển sản xuất kinh doanh, giảm nghèo bền vững và an sinh xã hội:
Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững các ngành sản xuất kinh doanh; ứng dụng công nghệ cao, thông minh và thực hiện tích tụ tập trung đất đai để hình thành các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn, hiệu quả cao theo chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm; sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
Triển khai thực hiện kịp thời, đầy đủ các nội dung của dự án, tiểu dự án thành phần thuộc Chương trình MTQG Giảm nghèo bền vững hàng năm. Tăng cường ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chú trọng chuyển giao khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ cao trong các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, các vùng sản xuất tập trung theo hướng hàng hóa có sự tham gia trực tiếp của đồng bào dân tộc.
Thường xuyên thu thập, phân tích, cập nhật thông tin, đánh giá đúng thực trạng nghèo, đặc biệt là nguyên nhân nghèo, mức độ thiếu hụt các chỉ tiêu tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có đối tượng bảo trợ xã hội làm cơ sở để xây dựng kế hoạch, đề ra giải pháp giảm nghèo đến từng hộ nghèo.
Huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất, hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo và các xã đặc biệt khó khăn; củng cố cơ sở hạ tầng đường bộ nông thôn, tạo kết nối với mạng lưới đường bộ chính, tạo điều kiện tiếp cận tới các thị trường; đảm bảo hạ tầng công nghệ, thông tin và truyền thông tốt tại khu vực miền núi, hỗ trợ mở rộng các công cụ học tập và thông tin trên nền tảng di động và kỹ thuật số.
Tập trung ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn. Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp thu hút đầu tư vào khu vực miền núi, nhằm khai thác lợi thế về rừng, tài nguyên rừng và lao động cho phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập của Nhân dân; đồng thời, huy động nguồn lực hỗ trợ các xã ĐBKK thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi để đảm bảo an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.