(Thanhhoa.dcs.vn): Ban Chỉ đạo chuyển đổi số tỉnh vừa ban hành Kế hoạch số 100/KH-BCĐ về hoạt động của Ban Chỉ đạo năm 2023.

 Kế hoạch đề ra mục tiêu là tập trung chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, ưu tiên nguồn lực để đạt được các chỉ tiêu quan trọng của Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 10/11/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về chuyển đổi số tỉnh Thanh Hoá đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số và Bộ Thông tin và Truyền thông giao, cụ thể:

(1) Về phát triển hạ tầng số: (i) Tỷ lệ thuê bao điện thoại di động sử dụng điện thoại thông minh đạt trên 80%; (ii) Tỷ lệ hộ gia đình có kết nối Internet băng rộng đạt trên 85%; (iii) Tiếp tục đầu tư và duy trì triển khai hạ tầng kỹ thuật phục vụ hội nghị trực tuyến đồng bộ 03 cấp từ cấp tỉnh đến cấp xã và kết nối với Hệ thống hội nghị trực tuyến quốc gia; (iv) Xây dựng và từng bước hoàn thiện hạ tầng điện toán đám mây phục vụ nhu cầu chuyển đổi số; ứng dụng công nghệ Internet vạn vật (IoT) trong một số ngành, lĩnh vực; (v) Phủ sóng mạng di động 4G và mạng Internet cáp quang đến 100% trung tâm các thôn/bản trên địa bàn tỉnh.

(2) Về dữ liệu số: (i) Xây dựng và ban hành được danh mục cơ sở dữ liệu dùng chung của tỉnh, hoàn thành ít nhất 50% tổng số cơ sở dữ liệu dùng chung trong danh mục đã ban hành; (ii) Hoàn thành việc triển khai cung cấp dữ liệu mở trên địa bàn tỉnh; (iii) Phấn đấu 100% các sở, ban, ngành đủ điều kiện cung cấp dịch vụ chia sẻ dữ liệu trên Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh (LGSP); (iv) Hoàn thành xây dựng, triển khai Nền tảng phân tích, xử lý dữ liệu tổng hợp cấp tỉnh, có ứng dụng trí tuệ nhân tạo; (v) Triển khai kho dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân trên hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính các cấp; người dân, doanh nghiệp chỉ phải nhập dữ liệu một lần khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến; (vi) Triển khai các hoạt động nâng cao năng lực phát triển và quản trị dữ liệu của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh; (vii) 100% các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ cao đẳng, đại học hoàn thành rà soát các chương trình đào tạo để xem xét bổ sung, lồng ghép nội dung, chuẩn đầu ra về dữ liệu lớn, thiết kế, phân tích xử lý dữ liệu phù hợp với đặc thù tương ứng của từng ngành, nghề đào tạo; (viii) 100% các trang, cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước được đánh giá an toàn thông tin và gắn nhãn tín nhiệm mạng; (ix) 100% các hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước được triển khai đầy đủ phương án bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ.

(3) Về phát triển chính quyền số: (i) Nâng cao chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến; hoàn thành triển khai hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh trên cơ sở hợp nhất cổng dịch vụ công và hệ thống một cửa điện tử; (ii) 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình; 50% dịch vụ công trực tuyến toàn trình được tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia; (iii) 30% thanh toán trực tuyến trên Cổng dịch vụ công trên tổng số giao dịch thanh toán của dịch vụ công; 60% thủ tục hành chính có yêu cầu nghĩa vụ tài chính được thanh toán trực tuyến trên Cổng dịch vụ công; (iv) 100% người dân và doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến được định danh và xác thực điện tử thông suốt, hợp nhất trên tất cả các hệ thống của các cấp chính quyền; (v) Tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt 100%. Tối thiểu 80% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý hoàn toàn trực tuyến từ xa; (vi) Phấn đấu trên 30% các sở, ban, ngành; UBND cấp huyện triển khai trợ lý ảo phục vụ hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức và phục vụ người dân; (vii) Phấn đấu trên 30% các sở, ban, ngành; UBND cấp huyện triển khai kết nối với hệ thống thông tin của đối tượng quản lý để thu thập dữ liệu trực tuyến phục vụ công tác quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật; (viii) Trên 30% hoạt động kiểm tra hành chính định kỳ của cơ quan quản lý nhà nước đối với đối tượng quản lý được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý; (ix) 100% cán bộ công chức, viên chức được tập huấn, bồi dưỡng, phổ cập kỹ năng số cơ bản; (x) Tỷ lệ báo cáo của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trực tuyến đạt 100%; (xi) Tối thiểu 90% người dân và doanh nghiệp hài lòng về việc giải quyết thủ tục hành chính.

(4) Về phát triển Kinh tế số: (i) Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP trên 16%; (ii) Tỷ trọng thương mại điện tử trong tổng mức bán lẻ đạt 10%; (iii) 100% các sở, ban, ngành; UBND cấp huyện ban hành và tổ chức triển khai kế hoạch phát triển kinh tế số và xã hội số thuộc phạm vi quản lý; (iv) 100% các sở, ban, ngành, địa phương triển khai các hoạt động thúc đẩy chuyển đổi số, thanh toán không dùng tiền mặt trong các cơ sở y tế, giáo dục thuộc phạm vi quản lý; (v) Trên 90% doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận dùng thử các nền tảng chuyển đổi số, trên 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa thường xuyên sử dụng nền tảng số; (vi) Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử đạt 50%; (vii) Xây dựng thí điểm được mô hình chuyển đổi số ở một số ngành, lĩnh vực.

(5) Về xây dựng xã hội số: (i) Tỷ lệ dân số trưởng thành có tài khoản định danh điện tử trên 30%; (ii) Tỷ lệ dân số trưởng thành có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân trên 30%; (iii) Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch thanh toán tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác trên 75%; (iv) Tỷ lệ dân số trưởng thành có tài khoản dịch vụ công trực tuyến trên 60%; (v) Tỷ lệ dân số trưởng thành sử dụng nền tảng hỗ trợ tư vấn khám chữa bệnh từ xa trên 30%; (vi) Tỷ lệ dân số có hồ sơ sức khỏe điện tử đạt 90%.

(6) Về an toàn, an ninh mạng: (i) 100% hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước hoàn thành phê duyệt cấp độ an toàn hệ thống thông tin; (ii) 100% hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ; (iii) Tỷ lệ thuê bao điện thoại di động thông minh có sử dụng phần mềm an toàn thông tin mạng cơ bản trên 50%; (iv) Tỷ lệ hộ gia đình có đường Internet cáp quang băng rộng có sử dụng giải pháp an toàn thông tin mạng cơ bản đạt trên 50%; (v) 70% trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và các cơ sở bảo vệ, nuôi dưỡng trẻ em được tuyên truyền, giáo dục kiến thức, kỹ năng cần thiết để tham gia môi trường mạng an toàn.

(Lê Nguyễn Trọng Xuân - Văn phòng Tỉnh uỷ Thanh Hoá)