(Thanhhoa.dcs.vn): 1. Nội dung kiến nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư: (1) Đề nghị trình Quốc hội xem xét, sửa đổi Luật Đầu tư công 2019, trong đó xem xét sửa đổi một số vướng mắc, bất cập như:

- Khoản 3 và khoản 4 Điều 35 Luật Đầu tư công 2019 quy định. Chủ tịch UBND các cấp quyết định đầu tư dự án nhóm B, nhóm C do cấp mình quản lý. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc phân cấp quản lý các công trình (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã quản lý những công trình nào), nên rất khó khăn cho địa phương trong việc xác định cấp quản lý các công trình, làm cơ sở quyết định đầu tư các dự án.

- Khoản 2 Điều 15 quy định chi phí lập, thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án sử dụng vốn chuẩn bị đầu tư. Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật chưa có quy định cụ thể về cách xác định chi phí, việc quản lý, sử dụng chi phí lập, thẩm định này.

- Điểm a khoản 2 Điều 42 Luật Đầu tư công 2019 quy định. Người đứng đầu Bộ, cơ quan Trung ương, Chủ tịch UBND các cấp giao cơ quan chuyên môn hoặc đơn vị có chức năng tổ chức khảo sát, lập báo cáo đề xuất dự án. Tuy nhiên, hiện nay các văn bản pháp luật chưa quy định cụ thể về hồ sơ, nội dung của Báo cáo đề xuất dự án đối với dự án khẩn cấp nên vướng mắc trong quá trình thực hiện.

- Khoản 2 Điều 57 Luật Đầu tư công năm 2019 quy định: Các chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, các dự án mới phải bảo đảm thời gian bố trí vốn thực hiện dự án nhóm A không quá 06 năm, nhóm B không quá 01 năm, nhóm C không quá 03 năm. Trường hợp không đáp ứng thời hạn trên, Thủ tướng Chính phủ quyết định thời gian bố trí vốn thực hiện dự án đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách Trung ương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định thời gian bố trí vốn thực hiện dự án đối với dự án sử dụng vốn ngân sách địa phương. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể nội dung hồ sơ, trình tự thủ tục quyết định điều chỉnh thời gian bố trí vốn để thực hiện dự án.

- Hiện nay có rất nhiều dự án đầu tư xây dựng tồn tại dư ứng lâu, lớn và chậm tiến độ trong đồ nguyên nhân chủ yếu liên quan đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Việc xác định chính xác và cân đối nguồn vốn thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng là một trong những điều kiện tiên quyết để đánh giá tính khả thi thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Vì vậy để giải quyết khó khăn vướng mắc nêu trên, đề nghị trình Quốc hội xem xét quy định tách riêng công tác đền bù, giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập tại thời điểm trước khi quyết định chủ trương đầu tư và phải hoàn thành dự án bồi thường giải phóng mặt bằng trước khi phê duyệt dự án đầu tư xây dựng.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời như sau:

(i) Đối với kiến nghị liên quan đến khoản 3 và khoản 4 Điều 35 Luật Đầu tư công 2019: Theo quy định của Luật Đầu tư công, dự án đầu tư công được phân loại vào 13 ngành, lĩnh vực tuỳ theo tính chất và mục tiêu của dự án. Mỗi một ngành, lĩnh vực có quy định về phân cấp quản lý nhà nước riêng, như đối với lĩnh vực giao thông đường bộ, theo quy định Luật giao thông đường bộ, quốc lộ do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định; hệ thống đường tỉnh, đường đô thị do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định; hệ thống đường huyện, đường xã do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định.

Việc phân cấp quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội sẽ do từng địa phương quyết định theo các nguyên tắc quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương và các pháp luật chuyên ngành (ngân sách nhà nước, du lịch, thuỷ lợi, lâm nghiệp, tài nguyên nước, viễn thông, giáo dục....), khó có thể quy định phân cấp quản lý tất cả lĩnh vực dự án đầu tư công trong Luật Đầu tư công. Việc phân cấp quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội là cơ sở để thực hiện phân chia nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước cũng như xác định cấp quản lý công trình, dự án.

(ii) Đối với kiến nghị liên quan đến khoản 2 Điều 15 Luật Đầu tư công 2019:

- Đối với dự án có cấu phần xây dựng, theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Luật Đầu tư công thì trình tự lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án có cấu phần xây dựng thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng và các quy định khác có liên quan, trừ dự án quan trọng quốc gia.

Đề nghị địa phương căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 31 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/2/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng và Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 của Bộ Xây dựng về ban hành định mức xây dựng, căn cứ trên phạm vi, khối lượng công việc phải thực hiện việc lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư.

- Đối với dự án không có cấu phần xây dựng: Chi phí lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư thực hiện theo các định mức quy định tại pháp luật chuyên ngành liên quan đến ngành, lĩnh vực của dự án đầu tư công. Chính phủ đã chỉ đạo các bộ quản lý ngành, lĩnh vực khẩn trương xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chuẩn theo đúng nhiệm vụ được giao tại khoản 2 Điều 82 Luật Đầu tư công.

(iii) Đối với kiến nghị liên quan đến điểm a khoản 2 Điều 42 và khoản 2 Điều 52 Luật Đầu tư công năm 2019: Luật Đầu tư công không quy định hồ sơ, nội dung của Báo cáo đề xuất dự án đối với dự án khẩn cấp; hồ sơ, trình tự, thủ tục báo cáo 3 cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh thời gian bố trí vốn thực hiện dự án, đồng thời không giao Chính phủ quy định chi tiết đối với nội dung này. Do đó, trường hợp cần thiết, đề nghị trực tiếp báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

(iv) Đối với kiến nghị liên quan đến tách riêng công tác đền bù, giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập tại thời điểm trước khi quyết định chủ trương đầu tư và phải hoàn thành dự án bồi thường giải phóng mặt bằng trước khi phê duyệt dự án đầu tư xây dựng: Thực hiện Nghị quyết số 29/2021/QH15 ngày 17/11/2021 của Quốc hội về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng, trình Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội Đề án thí điểm việc tách công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng ra khỏi dự án đầu tư tại Tờ trình số 520/TTr-CP. Theo ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tiếp tục nghiên cứu, xây dựng Đề án và sẽ trình Chính phủ bảo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội tại thời điểm thích hợp. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng Nghị quyết về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Khánh Hòa, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của Chủ tịch Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng một số chính sách về việc tách công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng ra khỏi dự án đầu tư đối với tỉnh Khánh Hòa, theo đó đã quy định rõ địa điểm, thời gian, nhóm đối tượng dự án áp dụng thí điểm. Tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XV, các chính sách này đã được Quốc hội quyết nghị tại Nghị quyết số 55/2022/QH15 ngày 16/6/2022 cho phép áp dụng đối với tỉnh Khánh Hòa (dự án nhóm B thuộc các ngành giao thông thủy lợi của tỉnh Khánh Hòa, thời gian thực hiện chính sách là 05 năm kể từ ngày 01/8/2022). Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, thể chế hóa nội dung này trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), thông qua việc bổ sung một Điều sửa đổi Luật Đầu tư công, trong đó quy định rõ trách nhiệm của cấp có thẩm quyền trong việc bảo đảm hiệu quả của việc tách công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ra khỏi dự án đầu tư công. Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV Chính phủ đã trình Quốc hội cho ý kiến đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

 (2) Đề nghị trình xem xét bãi bỏ quy định về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và bổ sung quy định các dự án đầu tư nước ngoài phải chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, UBND cấp tỉnh (bổ sung nội dung tại các điều 30, 31 và 32 Luật Đầu tư năm 2020).

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời như sau:

Về việc bỏ quy định cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cần được xem xét trong quá trình sửa đổi Luật Đầu tư trên cơ sở đánh giá sự cần thiết và tính khả thi và ý kiến của nhà đầu tư về nội dung này.

Việc chấp thuận chủ trương đầu tư tại các Điều 30,31,32 Luật Đầu tư đã được nghiên cứu xây dựng trên nguyên tắc không phân biệt dự án đầu tư trong nước và dự án đầu tư nước ngoài để phù hợp các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

 (3) Đề nghị trình Chính phủ tiếp tục quan tâm hỗ trợ, phân bổ nguồn vốn đầu tư cho xây dựng nông 4 thôn mới trên địa bàn huyện Mường Lát, vì trong giai đoạn 2022-2025 trên địa bàn huyện Mường Lát được hỗ trợ kinh phí thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; chính vì thế huyện Mường Lát không được phân bổ vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới từ Trung ương: điều này được quy định tại Quyết định số 02/2022/QĐ-TTg ngày 25/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ về quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách Trung ương và tỷ lệ đối ứng ngân sách địa phương thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời như sau:

Triển khai thực hiện các Nghị quyết số 517/NQ-UBTVQH ngày 22/5/2022. Nghị quyết số 659/NQ-UBTVQH ngày 14/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã giao 2.154,92 tỷ đồng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 nguồn ngân sách trung ương cho tỉnh Thanh Hóa để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại các Quyết định số 652/QĐ-TTg ngày 28/5/2022 và Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 23/02/2023. Trong đó đã bao gồm vốn (65 tỷ đồng) hỗ trợ huyện Mường Lát thực hiện một số nhiệm vụ chỉ đạo điểm của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong xây dựng nông thôn mới theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Quyết định số 07/2022/QĐ-TTg ngày 25/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ.

Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hướng dẫn việc phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách trung ương giai đoạn 2021-2025 của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại văn bản số 1486/BNN-VPĐP ngày 13/3/2023. Đề nghị địa phương chủ động rà soát quy định và thực hiện phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021- 2025, kế hoạch đầu tư vốn hằng năm nguồn ngân sách trung ương của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cho huyện Mường Lát thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ trong xây dựng nông thôn mới.

 (4) Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ sửa đổi Nghị định số 27/2022/NĐ-CP theo hướng:

- Các địa phương chỉ ban hành một số nội dung chính của các chương trình, như: (1) Kế hoạch thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, nguyên tắc, tiêu chi, định mức phân bổ vốn ngân sách nhà nước của các chương trình, danh mục các dự án áp dụng cơ chế đặc thù; các nội dung khác đề nghị giao Bộ ngành Trung ương ban hành Văn bản hướng dẫn chung cho các địa phương tổ chức thực hiện (2) Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã) trong việc phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công của các chương trình mục tiêu quốc gia. (3) Việc quy định tỷ lệ số lượng dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo cơ chế đặc thù do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định theo từng giai đoạn.

- Bỏ các quy định bắt buộc địa phương ban hành các cơ chế, chính sách và các quy định việc thực hiện các dự án đặc thù thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện thực tế của các địa phương để triển khai thực 5 hiện bảo đảm chủ động, linh hoạt và đạt hiệu quả cao trong việc triển khai thực hiện chương trình.

- Xem xét sửa đổi, bổ sung điểm a, khoản 7, Điều 22 Nghị định số 27/2022/NĐ-CP của Chính phủ theo đúng quy định.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời như sau:

Các kiến nghị của cử tri đã được tiếp thu, bổ sung quy định tại Điều 1 Nghị định số 38/2023/NĐ-CP ngày 24/6/2023 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 27/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. Theo đó, tại khoản 8, khoản 22 Điều 1 Nghị định số 38/2023/NĐ-CP sửa đổi Điều 13, Điều 40 Nghị định số 27/2022/NĐ-CP đã bỏ quy định về tỷ lệ số lượng dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo cơ chế đặc thù; không cần lấy ý kiến các bộ, cơ quan trung ương quản lý ngành, lĩnh vực khi xây dựng danh mục các dự án được áp dụng cơ chế đặc thù.

Tại khoản 13 và khoản 22 Điều 1 Nghị định số 38/2023/NĐ-CP ngày 24/6/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 27/2022/NĐ-CP ngày 19/4/2022 đã được sửa đổi quy định rõ hơn về cơ chế quay vòng một phần hỗ trợ bằng tiền mặt hoặc hiện vật để luân chuyển trong cộng đồng. Theo đó, UBND cấp tỉnh quyết định việc thực hiện cơ chế quay vòng này tại địa phương đảm bảo phù hợp điều kiện thực tiễn, năng lực quản lý, tổ chức thực hiện cấp cơ sở và của người dân; cộng đồng tự quản lý, tổ chức thực hiện việc quay vòng, luân chuyển vốn trong cộng đồng.

2. Nội dung kiến nghị Bộ Giao thông vận tải: (1) Đề nghị Bộ Giao thông vận tải xem xét sửa đổi, điều chỉnh khoản 3, Điều 1 Thông tư số 39/2021/TT-BGTVT ngày 31/12/2021 của Bộ Giao thông vận tải quy định đối với khu vực nút giao là chưa phù hợp với thực tiễn; sửa đổi, bổ sung quy định về nguồn kinh phí hỗ trợ để giải phóng mặt bằng khi thực hiện công tác khắc phục hậu quả thiên tại trong lĩnh vực đường bộ; cho phép cơ quan quản lý đường bộ được triển khai thực hiện công tác khắc phục hậu quả thiên tai đảm bảo giao thông bước 1 ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền công bố Tình huống khẩn cấp về thiên tai các quy định tại Thông tư số 03/2019/TT-BGTVT ngày 11/01/2019 và Thông tư số 43/2021/TT-BGTVT ngày 31/12/2021 của Bộ Giao thông vận tải, xem xét, điều chỉnh tăng định ngạch công tác bạt lề, phát cây, cắt cỏ, sơn sửa cọc tiêu,... tăng định mức công tác nắn sửa cọc tiêu, cọc MLG, cọc H, sơn dặm vạch kẻ đường, thông cống, thanh thải dòng chảy, bổ sung hạng mục chưa có trong định mức tại Thông tư số 44/2021/TT-BGTVT ngày 31/12/2021 của Bộ Giao thông vận tải.

Bộ Giao thông vận tải trả lời như sau:

(i) Về nội dung: "Xem xét sửa đổi, điều chỉnh khoản 3, Điều 1, Thông tư số 39/2021/TT-BGTVT ngày 31/12/2021 của Bộ Giao thông vận tải quy định đối với khu vực nút giao là chưa phù hợp với thực tiễn":

Nội dung phản ảnh kiến nghị của cử tri liên quan đến quy định về yêu cầu đấu nối vào quốc lộ tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số 39/2021/TT-BGTVT ngày 31/12/2021:

“... b) Có đủ quỹ đất để thiết kế, xây dựng làn chuyển tốc, làn dừng xe chờ rẽ trái và các yêu cầu kỹ thuật khác của nút giao theo yêu cầu của tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô hiện hành.

c) Không đấu nối vào bụng đường cong nằm có bán kính đường cong nhỏ hơn bán kính đường cong tối thiểu thông thường theo cấp đường quy hoạch; lưng đường cong có bố trí siêu cao; trong đoạn đường dốc có độ dốc dọc lớn hơn độ dốc dọc lớn nhất theo cấp đường đang khai thác; trong khu vực địa hình không bảo đảm tầm nhìn lái xe.

3. Thiết kế nút giao đấu nối vào quốc lộ phải tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành về yêu cầu thiết kế đường ô tô, đảm bảo an toàn giao thông và khả năng thông hành của quốc lộ...”

Theo quy định khi thiết kế nút giao, phải có đủ quỹ đất để thiết kế, xây dựng làn chuyển tốc, lần dừng xe chờ rẽ trái và các yêu cầu kỹ thuật khác của nút giao theo yêu cầu của Tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô hiện hành nhằm đảm bảo hạn chế điểm xung đột dòng xe và để việc gia tăng lưu lượng tham gia giao thông trên tuyến không ảnh hưởng đến khả năng thông hành tuyến đường, đảm bảo an toàn giao thông trong quá trình khai thác; do vậy việc kết nối giao thông bổ sung trong quá trình khai thác của tuyến đường vẫn phải đảm bảo tuân thủ theo tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô. Tuy nhiên, tùy thuộc vị trí nút giao khi đấu nối, lưu lượng xe trên đường chính và đường phụ để thiết kế các loại nút giao theo quy định tại mục 11 Tiêu chuẩn Việt Nam 4054:2005 Đường ô tô - Yêu cầu thiết kế cho phù hợp hiện trạng.

Như vậy quy định các yêu cầu và nguyên tắc chung khi thiết kế nút giao quy định tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số 39/2021/TT-BGTVT ngày 31/12/2021 phải tuân thủ theo tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô nhằm đảm bảo an toàn khi lưu thông trên quốc lộ. Đối với từng trường hợp cụ thể, tổ chức, cá nhân được UBND cấp tỉnh giao sử dụng điểm đấu nối sẽ căn cứ vào thực tế để điều chỉnh cho phù hợp tuân thủ các quy định nêu trên.

(ii) Về nội dung: “Sửa đổi, bổ sung quy định về nguồn kinh phí hỗ trợ để giải phóng mặt bằng khi thực hiện công tác khắc phục hậu quả thiên tai trong lĩnh vực đường bộ":

Ngày 15/6/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 60/2017/TT- BTC; trong Thông tư có quy định tại khoản 3 Điều 2 (có bố trí chi phí cho công tác giải phóng mặt bằng trong công tác khắc phục hậu quả thiên tai bảo đảm giao thông). Đối với những công trình khắc phục hậu quả thiên tai bảo đảm giao thông trên lĩnh vực đường bộ mà phải cần hỗ trợ kinh phí giải phóng mặt bằng đề nghị thực hiện theo Thông tư nêu trên. Do vậy, không cần sửa đổi, bổ sung quy định về nguồn kinh phí hỗ trợ để giải phóng mặt bằng khi thực hiện công tác khắc phục hậu quả thiên tai trong lĩnh vực đường bộ như kiến nghị nêu trên của cử tri.

(iii) Về nội dung: "Cho phép cơ quan quản lý đường bộ được triển khai thực hiện công tác khắc phục hậu quả thiên tai đảm bảo giao thông bước 1 ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền công bố Tình huống khẩn cấp về thiên tai các quy định tại Thông tư số 03/2019/TT-BGTVT ngày 11/01/2019 và Thông tư số 43/2021/TT-BGTVT ngày 31/12/2021 của Bộ Giao thông vận tải”

Theo quy định tại Thông tư số 03/2019/TT-BGTVT ngày 11/01/2019 quy định về phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai trong lĩnh vực đường bộ đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 43/2021/TT-BGTVT ngày 31/12/2021, toàn bộ các nội dung khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm giao thông bước 1 đều được thực hiện theo quy trình xây dựng công trình khẩn cấp khắc phục hậu quả thiên tai (theo đó, sau khi cấp có thẩm quyền công bố tình huống khẩn cấp, ban hành Lệnh xây dựng công trình khẩn cấp, các đơn vị quản lý đường bộ mới có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện các nhiệm vụ khắc phục hậu quả thiên tai ngoài hiện trường), dẫn đến công tác triển khai thực tế để khắc phục hậu quả thiên tai chưa đáp ứng yêu cầu về nguyên tắc của hoạt động phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai được quy định tại Điều 4 Luật Phòng, chống thiên tai.

Bộ Giao thông vận tải ghi nhận kiến nghị nêu trên của cử tri và sẽ nghiên cứu đưa vào dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 03/2019/TT-BGTVT ngày 11/01/2019 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai trong lĩnh vực đường bộ thuộc Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2023 của Bộ Giao thông vận tải, theo kế hoạch ban hành trong tháng 08/2023.

(iv) Về nội dung “Xem xét, điều chỉnh tăng định ngạch công tác bạt lề, phát cây, cắt cỏ, sơn sửa cọc tiêu..., tăng định mức công tác nắn sửa cọc tiêu, cọc MLG, cọc H, sơn dặm vạch kẻ đường, thông cống, thanh thải dòng chảy..., bổ sung hạng mục chưa có trong định mức tại Thông tư số 44/2021/TT-BGTVT ngày 31/12/2021 của Bộ Giao thông vận tải”:

Việc sửa đổi, bổ sung các định mức bảo dưỡng thường xuyên trong quá trình thực hiện cho phù hợp thực tế, đảm bảo sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước là cần thiết và phải được thực hiện trên cơ sở tiêu hao sản xuất như nhân công, vật liệu, máy móc thiết bị theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng. Theo báo cáo của Cục Đường bộ Việt Nam, trong quá trình thực hiện công tác bảo dưỡng thường xuyên đường bộ, các đơn vị quản lý đường bộ (Khu Quản lý đường bộ, Sở Giao thông vận tải) đã thường xuyên rà soát các định ngạch (khối lượng sửa chữa), định mức công tác bảo dưỡng thường xuyên quy định tại Thông tư số 44/2021/TT-BGTVT ngày 31/12/2021 của Bộ Giao thông vận tải.

Tiếp thu kiến nghị của cử tri, Bộ Giao thông vận tải yêu cầu Cục Đường bộ Việt Nam tổng hợp kết quả rà soát của các đơn vị quản lý đường bộ về các định ngạch (khối lượng sửa chữa), định mức công tác bảo dưỡng thường xuyên. Trường hợp Cục Đường bộ Việt Nam báo cáo Bộ Giao thông vận tải đề xuất sửa đổi quy định về định mức quản lý, bảo dưỡng thường xuyên đường bộ, Bộ Giao thông vận tải sẽ xây dựng chương trình sửa đổi văn bản quy phạm luật để sửa đổi, bổ sung các quy định tại Thông tư số 44/2021/TT-BGTVT ngày 31/12/2021 đáp ứng kiến nghị của cử tri đã nêu.

(2) Đề nghị trình Chính phủ xem xét, sửa đổi Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ bao gồm một số điều, khoản còn vướng mắc trong thực tiễn như: Quy định về hành lang an toàn đường bộ đối với công trình cầu cạn thuộc phạm vi ngoài đô thị (Điều 16), cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí để giải phóng mặt bằng hạng mục đường gom; cho phép đấu nối tạm thời vào Quốc lộ hoặc đấu nối tạm thời vào đường nhánh gần nhất (hiện có) cho đến khi có điều kiện xây dựng được đường gom theo quy định hiện hành (Điều 26), xem xét, nghiên cứu sửa đổi quy định về hành lang an toàn đường bộ đối với khu vực đã được quy hoạch đô thị (Điều 15) không trùng khớp với phạm vi hành lang được xác định theo mốc lộ giới được xác định theo quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt của các địa phương theo quy định tại Thông tư số 10/2016/TT-BXD ngày 15/3/2016 của Bộ Xây dựng, nghiên cứu bổ sung quy định cho phép giải phóng mặt bằng, thu hồi hết đối với phần diện tích còn lại nằm trong phạm vi hành lang an toàn của đường bộ không được xây dựng lại nhà ở mới (Điều 44).

Bộ Giao thông vận tải trả lời như sau:

(i) Về nội dung: “Quy định về hành lang an toàn đường bộ đối với công trình cầu cạn thuộc phạm vi ngoài đô thị (Điều 16, Nghị định số 11/2010/NĐCP ngày 24/02/2010 của Chính phủ)”: Theo Nghị quyết của Quốc hội, Dự án Luật Đường bộ sẽ trình Quốc hội khóa XV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2023) và thông qua tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2024). Đối với các nội dung cử tri kiến nghị bổ sung quy định về hành lang an toàn đường bộ đối với công trình cầu cạn thuộc phạm vi ngoài đô thị (Điều 16, Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ), Bộ Giao thông vận tải đã tiếp thu ý kiến. Sau khi Luật Đường bộ được Quốc hội thông qua, Bộ Giao thông vận tải sẽ nghiên cứu trong quá trình xây dựng Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Đường bộ.

(ii) Về nội dung “Cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí để GPMB hạng mục đường gom; cho phép đấu nối tạm thời vào Quốc lộ hoặc đấu nối tạm thời vào đường nhánh gần nhất (hiệu có) cho đến khi có điều kiện xây dựng được đường gom theo quy định hiện hành (Điều 26)": Nội dung cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí để giải phóng mặt bằng hạng mục đường gom cũng như các nội dung liên quan đến hỗ trợ kinh phí giải phóng mặt bằng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về đất đai, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật giao thông đường bộ, do đó, Bộ Giao thông vận tải không có cơ sở để tham mưu Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 11/2010/NĐ-CP về nội dung này như kiến nghị của cử tri.

(iii) Về nội dung "Cho phép đấu nối tạm thời vào Quốc lộ hoặc đấu nối tạm thời vào đường nhánh gần nhất (hiện có) cho đến khi có điều kiện xây dựng được đường gom theo quy định hiện hành”:

a) Đối với nội dung kiến nghị cho phép đấu nối tạm thời vào Quốc lộ: Nội dung đấu nối tạm thời có thời hạn vào quốc lộ đang khai thác đã được quy định tại Điều 28 Thông tư số 50/2015/TT-BGTVT ngày 23/09/2015 của Bộ Giao thông vận tải.

b) Đối với nội dung kiến nghị đấu nối tạm thời vào đường nhánh gần nhất (hiện có) cho đến khi có điều kiện xây dựng được đường gom theo quy định hiện hành:

Trường hợp công trình, dự án cùng phía tiếp giáp trực tiếp với đường nhánh, đã có quy định sử dụng chung điểm đấu nối tại khoản 3 Điều 1 của Thông tư số 39/2021/TT-BGTVT), cụ thể như sau:

"5. Trường hợp sử dụng chung điểm đấu nối, chỉ áp dụng cho một công trình, dự án cùng phía tiếp giáp trực tiếp với đường nhánh của nút giao điểm đấu nối hiện hữu, không làm phát sinh điểm đấu nối mới. UBND cấp tỉnh quyết định việc sử dụng chung điểm đấu nối hiện hữu vào quốc lộ. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng chung điểm đấu nối phải thực hiện cải tạo nút giao sau khi được cơ quan đường bộ có thẩm quyền chấp thuận thiết kế kỹ thuật và cấp phép thi công theo quy định".

Trường hợp công trình, dự án cùng phía không tiếp giáp trực tiếp với đường nhánh, hiện chưa có quy định đấu nối tạm thời vào đường nhánh gần nhất (hiện có) cho đến khi có điều kiện xây dựng được đường gom theo quy định hiện hành. Theo Nghị quyết của Quốc hội, Dự án Luật Đường bộ sẽ trình Quốc hội khóa XV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2023) và thông qua tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2024). Sau khi Luật Đường bộ được ban hành, trong quá trình soạn thảo Nghị định quy định về việc quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Bộ Giao thông vận tải sẽ nghiên cứu các quy định này bổ sung vào dự thảo Nghị định tham mưu Chính phủ ban hành cho phù hợp.

(iv) Về nội dung: “Xem xét, nghiên cứu sửa đổi quy định về hành lang an toàn đường bộ đối với khu vực đã được quy hoạch đô thị (Điều 15) không trùng khớp với phạm vi hành lang được xác định theo mốc lộ giới được xác định theo quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt của các địa phương theo quy định tại Thông tư số 10/2016/TT-BXD ngày 15/3/2016 của Bộ Xây dựng; nghiên cứu bổ sung quy định cho phép giải phóng mặt bằng, thu hồi hết đối với phần diện tích còn lại nằm trong phạm vi hành lang an toàn của đường bộ không được xây dựng lại nhà ở mới (Điều 44)”:

a) Đối với nội dung kiến nghị xem xét, nghiên cứu sửa đổi quy định về hành lang an toàn đường bộ đối với khu vực đã được quy hoạch đô thị (Điều 15) không trùng khớp với phạm vi hành lang được xác định theo mốc lộ giới được xác định theo quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt của các địa phương theo quy định tại Thông tư số 10/2016/TT-BXD ngày 15/3/2016 của Bộ Xây dựng:

Đối với đường đô thị, bề rộng hành lang an toàn được tính từ mép đường đến chỉ giới xây dựng của đường theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt”; Để thực hiện Luật Quy hoạch đô thị, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 10/2016/TT-BXD ngày 15/3/2016 quy định về cắm mốc giới và quản lý mốc giới theo quy hoạch xây dụng; tại Điều 2 có quy định: “3. Mốc chỉ giới đường đỏ là mốc xác định đường ranh giới phân định giữa phần lô đất để xây dựng công trình và phần đất được dành cho đường giao thông hoặc các công trình hạ tầng kỹ thuật, có ký hiệu CGĐ". Như vậy, quy định về hành lang an toàn đường bộ hiện hành đã phù hợp với quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị.

Tuy nhiên, theo Nghị quyết của Quốc hội, Dự án Luật Đường bộ sẽ trình Quốc hội khóa XV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2023) và thông qua tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2024). Sau khi Luật Đường bộ được ban hành, Bộ Giao thông vận tải sẽ nghiên cứu tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định về việc quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, trong đó sẽ quy định cụ thể hơn về hành lang an toàn đường bộ đối với khu vực đã được quy hoạch đô thị như các nội dung cử tri quan tâm nêu trên.

b) Đối với nội dung kiến nghị nghiên cứu bổ sung quy định cho phép giải phóng mặt bằng, thu hồi hết đối với phần diện tích còn lại nằm trong phạm vi hành lang an toàn của đường bộ không được xây dựng lại nhà ở mới (Điều 44):

Về nội dung này, Bộ Giao thông vận tải đã có văn bản trả lời đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa, Bộ Giao thông vận tải rà soát, cập nhật thông tin trả lời cử tri như sau: Theo báo cáo của Cục Đường bộ Việt Nam, để thực hiện công tác đền bù, hỗ trợ giải tỏa hành lang an toàn đường bộ ảnh hưởng đến an toàn giao thông (các công trình, cây cối nằm trong hành lang an toàn đường bộ, khu vực điểm đen, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông) và bồi thường, hỗ trợ thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất, kinh phí dự kiến (chưa đầy đủ do việc xác định phức tạp) khoảng 129.277 tỷ đồng (số liệu thống kê đến tháng 4/2017). Đây là khoản kinh phí rất lớn, trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp nên Quốc hội, Chính phủ chưa thể cân đối được. Do vậy, việc “giải phóng mặt bằng, thu hồi hết diện tích đất đối với phần diện tích còn lại nằm trong phạm vi hành lang an toàn của đường bộ, không được xây dựng lại nhà ở mới” theo kiến nghị của cử tri chưa khả thi tại thời điểm hiện nay.

 (3) Đề nghị Bộ giao thông Vận tải tham mưu Chính phủ xem xét, sửa đổi Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010, trong đó:(i) Bổ sung quy định để xử lý các vấn đề liên quan đến phạm vi hành lang an toàn đường bộ khi nâng cấp quy hoạch các tuyến quốc lộ thành cấp kỹ thuật cao hơn, không làm ảnh hưởng đến việc xây dựng của các hộ dân dọc hai bên tuyến; (ii) Bổ sung quy định cho phép giải phóng mặt bằng thu hồi hết diện tích đất đối với phần diện tích còn lại nằm trong phạm vi hành lang an toàn của đường bộ không được xây dựng lại nhà ở mới; (iii) Bổ sung quy định về hành lang an toàn đường bộ đối với phần cầu chạy trên cạn kể cả phần cầu chạy trên phần đất không ngập nước thường xuyên trên các tuyến cao tốc, quốc lộ đối với cầu phạm vi ngoài đô thị.

Bộ Giao thông vận tải trả lời như sau:

(i) Về nội dung: “Xem xét, sửa đổi Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010, trong đó bổ sung quy định để xử lý các vấn đề liên quan đến phạm vi hành lang an toàn đường bộ khi nâng cấp quy hoạch các tuyến quốc lộ thành cấp kỹ thuật cao hơn không làm ảnh hưởng đến việc xây dựng của các hộ dân dọc hai bên tuyến":

Về nội dung này, Bộ Giao thông vận tải đã có văn bản trả lời Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa, Bộ Giao thông vận tải rà soát, cập nhật thông tin trả lời cử tri như sau: Giới hạn hành lang an toàn đường bộ xác định theo quy hoạch đường bộ được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chia theo cấp đường. Việc sử dụng hành lang an toàn đường bộ đã được quy định cụ thể tại Điều 43 Luật Giao thông đường bộ. Tuy nhiên, cho đến nay Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải, các Bộ, ngành liên quan và chính quyền địa phương vẫn chưa xử lý hết những vấn đề tồn tại, bất cập như phản ánh của cử tri (khi nâng cấp kỹ thuật các tuyến quốc lộ cao hơn, phạm vi hành lang an toàn đường bộ sẽ được mở rộng dẫn đến các hộ dân nằm trong hành lang theo quy hoạch sẽ không được cơi nới, mở rộng).

Theo Nghị quyết của Quốc hội, Dự án Luật Đường bộ sẽ trình Quốc hội khóa XV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2023) và thông qua tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2024). Đối với các nội dung được cử tri phản ánh nêu trên, Bộ Giao thông vận tải đã tiếp thu ý kiến. Sau khi Luật Đường bộ được Quốc hội thông qua, Bộ Giao thông vận tải sẽ nghiên cứu trong quá trình xây dựng Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Đường bộ.

(ii) Về nội dung: Bổ sung quy định cho phép giải phóng mặt bằng, thu hồi hết diện tích đất đối với phần diện tích còn lại nằm trong phạm vi hành lang an toàn của đường bộ không được xây dựng lại nhà ở mới:

Về nội dung này, Bộ Giao thông vận tải đã có văn bản trả lời đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa, Bộ Giao thông vận tải rà soát, cập nhật thông tin trả lời cử tri như sau. Theo báo cáo của Cục Đường bộ Việt Nam, để thực hiện công tác đền bù, hỗ trợ giải tỏa hành lang an toàn đường bộ ảnh hưởng đến an toàn giao thông (các công trình, cây cối nằm trong hành lang an toàn đường bộ, khu vực điểm đen, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông) và bồi thường, hỗ trợ thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất, kinh phí dự kiến (chưa đầy đủ do việc xác định phức tạp) khoảng 129.277 tỷ đồng (số liệu thống kê đến tháng 4/2017). Đây là khoản kinh phí rất lớn, trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp nên Quốc hội, Chính phủ chưa thể cân đối được. Do vậy, việc “giải phóng mặt bằng, thu hồi hết diện tích đất đối với phần diện tích còn lại nằm trong phạm vi hành lang an toàn của đường bộ, không được xây dựng lại nhà ở mới" theo kiến nghị của cử tri chưa khả thi tại thời điểm hiện nay.

(iii) Về nội dung: “Bổ sung quy định về hành lang an toàn đường bộ đối với phần cầu chạy trên cạn kể cả phần cầu chạy trên phần đất không ngập nước thường xuyên trên các tuyến cao tốc, quốc lộ đối với cầu phạm vi ngoài đô thị”:

Theo Nghị quyết của Quốc hội, Dự án Luật Đường bộ sẽ trình Quốc hội khóa XV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2023) và thông qua tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2024). Đối với các nội dung cử tri kiến nghị bổ sung quy định về hành lang an toàn đường bộ đối với phần cầu chạy trên cạn kể cả phần cầu chạy trên phần đất không ngập nước thường xuyên trên các tuyến cao tốc, quốc lộ đối với cầu phạm vi ngoài đô thị, Bộ Giao thông vận tải đã tiếp thu ý kiến. Sau khi Luật Đường bộ được Quốc hội thông qua, Bộ Giao thông vận tải sẽ nghiên cứu trong quá trình xây dựng Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Đường bộ.

3. Nội dung kiến nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xem xét bổ sung quy định “Cán bộ, viên chức, người lao động trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng ở các Ban quản lý rừng phòng hộ” là lao động nặng nhọc, nguy hiểm loại IV như Kiểm lâm viên trực tiếp quản lý rừng theo Thông tư số 11/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về Ban hành danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời như sau: Việc bổ sung Danh mục nghề, việc nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với “cán bộ, viên chức, người lao động trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng ở các Ban quản lý rừng phòng hộ” đề nghị thực hiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 11/2020/TT-BLĐTBXH và Điều 9 Thông tư số 29/2021/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan để bổ sung, đảm bảo đúng theo quy định đã nêu.

(Lê Nguyễn Trọng Xuân - Văn phòng Tỉnh uỷ Thanh Hoá)