(Thanhhoa.dcs.vn): 1. Nội dung kiến nghị Bộ Tài chính: Đề nghị Bộ Tài chính xem xét lại định mức sử dụng xe chuyên dụng phòng, chống dịch thời hạn của một chiếc xe khu vực miền núi, giao thông đi lại khó khăn ngắn hơn đối với khu vực khác. Vì trong quá trình hoạt động xe phải đi lại ở vùng đồi, núi, qua sông, qua suối rất nhanh hỏng và thường xuyên phải sửa chữa nên niên hạn sử dụng sẽ ngắn hơn.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 04/2019/NĐ-CP ngày 11/01/2019 của Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô thì xe ô tô phục vụ công tác chung, xe ô tô chuyên dùng (trong đó có xe ô tô chuyên dùng trong lĩnh vực y tế) được thanh lý khi đáp ứng một trong các điều kiện sau: (1) Đã quá thời gian sử dụng theo quy định của pháp luật về chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định; (2) Đã sử dụng trên 200.000 km đối với xe ô tô của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước có trụ sở đóng trên địa bàn miền núi, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đã sử dụng trên 250.000 km đối với xe ô tô của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước có trụ sở đóng trên địa bàn còn lại; (3) Chưa đủ điều kiện theo quy định nêu trên nhưng bị hư hỏng mà không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa không hiệu quả (dự toán chi phí sửa chữa lớn hơn 30% so với nguyên giá). Như vậy pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công đã có quy định như kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa.
2. Nội dung kiến nghị Bộ Công an: (1) Đề nghị Bộ Công an nghiên cứu, bổ sung quy định về cấp phép vận chuyển, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp phục vụ thi công đảm bảo giao thông bước 1 trên các tuyến đường trong các tình huống cấp bách, thiên tai theo hướng rút ngắn thời gian và thủ tục cấp phép vận chuyển, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp theo quy định tại Thông tư số 35/2010/TT-BCA ngày 11/10/2010 của Bộ Công an quy định về cấp giấy phép vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp".
Trả lời: Việc cấp giấy phép sử dụng và vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp được quy định tại Điều 42 và Điều 44 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), không áp dụng quy định tại Thông tư số 35/2010/TT-BCA về việc cấp giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp. Bộ Công an ghi nhận kiến nghị của cử tri và sẽ phối hợp với các bộ, ngành có liên quan đánh giá, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và các văn bản hướng dẫn thi hành để báo cáo cấp có thẩm quyền có hướng xử lý phù hợp.
(2) Đề nghị trình Chính phủ sớm ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định số 136/2020/NĐ-CP và Nghị định số 83/2017/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật phòng cháy, chữa cháy; chỉ đạo các ngành liên quan cần linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật về phòng cháy chữa cháy, không vội vàng, cứng nhắc, nên có thời gian, lộ trình để doanh nghiệp khắc phục, cân nhắc xem xét đối với các công trình, nhà máy được nghiệm thu và đưa vào sử dụng trước khi có quy định mới thì được tiếp tục được hoạt động; đối với các công trình được khởi công, xây dựng từ sau khi có quy định mới thì phải tuân thủ nghiêm các quy định về phòng cháy chữa cháy.
Trả lời: Hiện nay, việc dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020 và Nghị định số 83/2017/NĐ-CP ngày của Chính phủ đã hoàn thành, đang được các bộ, ngành liên quan thẩm định, hoàn thiện để báo cáo Chính phủ xem xét ban hành, Bộ Công an ghi nhận kiến nghị của cử tri trong quá trình nghiên cứu, tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020 bảo đảm phù hợp tình hình thực tiễn.
3. Nội dung kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo: (1) Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Y tế xem xét, tiếp tục cho các Trường Đại học Y - Dược triển khai đào tạo liên thống hệ chuyên tu, hệ cử tuyển đối với ngành Y tế để con em đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa có cơ hội được đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn ngành y về địa phương công tác lâu dài
Trả lời: Bộ Giáo dục và Đào tạo luôn phối hợp với các bộ, ngành trong công tác đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc biệt với Bộ Y tế, công tác phối hợp càng chặt chẽ hơn vì ngành y là ngành đặc thù, chuyên sâu, yêu cầu cao trong công tác đào tạo.
Về việc đào tạo liên thông (hệ chuyên tu trước đây): từ năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 18/2017/QĐ-TTg quy định về liên thông giữa trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng với trình độ đại học. Trên cơ sở đó, các cơ sở giáo dục đào tạo căn cứ theo các quy định để tổ chức tuyển sinh và đào tạo liên thông nâng cao trình độ. Trong đó có các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe.
Việc đào tạo cử tuyển và đặt hàng đào tạo của địa phương vẫn đang triển khai thực hiện. Chế độ cử tuyển đối với học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số theo Nghị định số 141/2020/NĐ-CP ngày 08/12/2020 thực hiện cho tất cả các ngành đào tạo; đặt hàng đào tạo được quy định, hướng dẫn thực hiện theo Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên.
Mặt khác, quy chế tuyển sinh đại học, tuyển sinh cao đẳng ngành giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Thông tư số 08/2022/TT-BGDĐT ngày 06/6/2022) đã quy định chính sách ưu tiên trong tuyển sinh (Điều 7) đối với trường hợp thí sinh dân tộc thiểu số, thí sinh vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn.
Đối với đào tạo các ngành thuộc nhóm ngành Sức khỏe: Hiện tại Bộ Y tế đang xây dựng Đề án phát triển nhân lực y tế đến năm 2030. Đề án được phê duyệt là cơ sở quan trọng để triển khai đào tạo, đáp ứng nhu cầu sử dụng, đào tạo nguồn nhân lực và cơ chế hỗ trợ đặt hàng giao nhiệm vụ đào tạo. Đây cũng là căn cứ để UBND tỉnh, địa phương xác định số lượng, đối tượng cần đào tạo và lựa chọn đặt hàng với đơn vị đào tạo theo nguyên tắc tuyển sinh của cơ sở để bảo đảm chất lượng đào tạo, đáp ứng theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và toàn quốc.
(2) Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi Thông từ số 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16/5/2012 hoặc ban hành văn bản hướng dẫn việc quản lý dạy thêm, học thêm bên ngoài nhà trường; rà soát, sửa đổi định mức học sinh lớp theo quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 16/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT ngày 12/7/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo để các địa phương kịp thời xây dựng kế hoạch, có phương án bố trí, sắp xếp, tuyển dụng giáo viên trong quá trình triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, hướng dẫn thực hiện cấp, thu hồi kinh phí bồi hoàn của sinh viên sư phạm thống nhất trên phạm vi cả nước, tránh nguy cơ lũng phi nguồn nhân lực và thất thoát ngân sách nhà nước khi triển khai thực hiện Nghị định số 116/2020/NĐ-CP của Chính phủ.
Trả lời: (i) Về việc sửa đổi Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16/5/2012 hoặc ban hành văn bản hướng dẫn việc quản lý dạy thêm, học thêm bên ngoài nhà trường:
Ngày 16/5/2012, Bộ trưởng Bộ GDĐT đã ban hành Thông tư số 17/TTBGDĐT quy định về dạy thêm, học thêm (sau đây gọi tắt là Thông tư số 17). Sau khi Luật sửa đổi Luật Đầu tư đưa hoạt động dạy thêm, học thêm (DTHT) ra khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, một số Điều quy định về điều kiện và cấp phép tổ chức DTHT (Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14) tại Thông tư số 17 không còn hiệu lực. Tuy nhiên, các quy định khác của Thông tư số 17 vẫn có hiệu lực thi hành như quy định về nguyên tắc DTHT (Điều 3), các trường hợp không được DTHT (Điều 4), trách nhiệm quản lý hoạt động DTHT của địa phương, cơ sở giáo dục, tổ chức, cá nhân tổ chức hoạt động DTHT (Điều 15, 16, 17, 18, 19, 20).
Theo quy định tại Điều 15 Thông tư số 17, UBND tỉnh ban hành văn bản quy định về dạy thêm, học thêm với các nội dung chủ yếu: trách nhiệm của UBND các cấp, các cơ quan quản lý giáo dục và các ngành liên quan trọng việc quản lý dạy thêm, học thêm trên địa bàn; việc thí quản lý và sử dụng tiền học thêm; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Trên thực tế, nhiều địa phương căn cứ vào các điều còn hiệu lực của Thông tư số 17 đã ban 3 hành các văn bản quy định việc quản lý hoạt động DTHT tại địa phương có hiệu quả, đặc biệt là hoạt động DTHT ngoài nhà trường.
Tiếp thu ý kiến của cử tri, thời gian tới Bộ GDĐT sẽ tiếp tục chỉ đạo các địa phương để ban hành các văn bản hướng dẫn dạy thêm, học thêm theo quy định tại Điều 15 của Thông tư 17 đảm bảo phù hợp với điều kiện từng địa phương, cơ sở giáo dục. Đồng thời tiếp tục tham mưu Chính phủ đề xuất Quốc hội đưa hoạt động dạy thêm, học thêm vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện; sau khi được đưa vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, Bộ GDĐT sẽ nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định về quản lý hoạt động DTHT nhằm bảo đảm phù hợp, thuận lợi cho công tác quản lý hoạt động DTHT trong và ngoài nhà trường của các địa phương.
(ii) Về việc rà soát, sửa đổi định mức học sinh/lớp theo quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2015 TTLT-BGDĐT-BNV ngày 16/3/2015 và Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT ngày 12/7/2017: Việc xây dựng Thông tư thay thế Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLTBGDĐT-BNV và Thông tư 16/2017/TT-BGDĐT hướng dẫn danh mục vị trí việc làm, định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và các trường chuyên biệt công lập đã được Bộ trưởng Bộ GDĐT phê duyệt trong chương trình công tác năm 2023. Hiện nay, Bộ GDĐT đang gửi dự thảo Thông tư để xin ý kiến thống nhất của Bộ Nội vụ trước khi ban hành. Dự kiến Thông tư sẽ được ban hành vào cuối năm 2023.
(iii) Về việc hướng dẫn thực hiện cấp, thu hồi kinh phí bồi hoàn của sinh viên sư phạm: Đối với việc hướng dẫn thực hiện cấp, thu hồi kinh phí bồi hoàn của sinh viên sư phạm khi triển khai thực hiện Nghị định số 116/2020/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định số 116), Bộ GDĐT đang triển khai xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 116, trong đó có nghiên cứu, bổ sung nội dung nêu trên. Hiện nay dự thảo Nghị định đang được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Chính phủ và Bộ GDĐT để xin ý kiến rộng rãi của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (từ ngày 26/6/2023 đến ngày 26/8/2023).
(3) Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tham mưu trình Chính phủ có chính sách hỗ trợ một phần lương để khuyến khích động viên và giảm một phần khó khăn đối với người lao động là cán bộ, giáo viên nhân viên hiện nay đang công tác giảng dạy, làm việc tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập, góp phần giảm tải áp lực cho hệ thống giáo dục công lập.
Trả lời: Chế độ, chính sách đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục ngoài công lập được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành (được hưởng lương, phụ cấp theo thỏa thuận hợp đồng lao động ký kết với nhà đầu tư, đảm bảo mức lương tối thiểu vùng theo quy định đối với người lao động, được tham gia bảo hiểm, an toàn vệ sinh lao động, khám sức khỏe định kỳ...). Các chính sách đặc thù của ngành Giáo dục (đào tạo, bồi dưỡng; tôn vinh, khen thưởng…) được áp dụng, thực hiện đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục ngoài công lập với các mức độ khác nhau tùy vào điều kiện của cơ sở giáo dục cũng như chủ trương của từng địa phương.
4. Nội dung kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao:
(i) Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao trình Quốc hội sửa đổi một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, khắc phục những bất cập trong quá trình thực hiện Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và để phù hợp với luật pháp quốc tế.
(ii) Đề nghị sửa đổi, bổ sung và nâng mức bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa tại Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Trả lời: (i) Về việc sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân:
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới và các nghị quyết, văn kiện của Đảng về cải cách tư pháp, đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án đã đề ra nhiều nhiệm vụ mới cho Tòa án, đặt ra yêu cầu phải thể chế đầy đủ, đúng đắn, toàn diện quan điểm của Đảng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án. Tại Hội nghị triển khai công tác Tòa án năm 2019, đồng chí Tổng bí thư, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo “Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp trong Tòa án. Chủ động nghiên cứu và sẵn sàng ứng phó với những vấn đề đặt ra cho Tòa án trong kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng và kinh tế số phát triển mạnh mẽ”; “Các Tòa án phải sắp xếp lại tổ chức tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn”. Các chủ trương lớn nêu trên là những định hướng, chỉ đạo quan trọng, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ phải sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh các năm 2023 và 2024, Tòa án nhân dân Tối cao đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan soạn thảo dự án Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) (sau đây gọi tắt là dự án Luật). Quá trình xây dựng dự án Luật, Tòa án nhân dân Tối cao đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học, lắng nghe các ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; tham khảo các kinh nghiệm quốc tế và tổ chức lấy ý kiến trong toàn hệ thống Tòa án nhiều lần đối với dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi), cụ thể: Tổ chức hội nghị Chánh án toàn quốc để bàn về nội dung và những định hướng lớn của dự thảo Luật; tổ chức hội nghị tại các vùng miền để các Tòa án, cơ quan hữu quan tham gia góp ý; lấy ý kiến của thành viên Ban cán sự đảng, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; đồng thời, đăng hồ sơ dự án Luật trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Tối cao để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý. Sau khi có ý kiến Chính phủ, bộ, ngành hữu quan đối với hồ sơ dự án Luật, Tòa án nhân dân Tối cao sẽ tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật và gửi hồ sơ dự án Luật đến Ủy ban Tư pháp của Quốc hội để thẩm tra, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét.
(ii) Về việc nâng mức bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa tại Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự:
Kể từ khi Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg có hiệu lực (từ ngày 01/01/2013), qua 10 năm với nhiều lần Nhà nước điều chỉnh tăng mức lương cơ sở (từ 1.050.000 đồng của năm 2012 lên 1.800.000 đồng như hiện nay, tăng 71,4%) nhưng mức chi bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự không thay đổi. Tòa án nhân dân Tối cao đã nhiều lần đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục sửa đổi, bổ sung Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng và nâng định mức bồi dưỡng cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án. Tuy nhiên, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến chỉ đạo: “Từ nay đến khi ban hành các văn bản quy định chế độ tiền lương mới để thực hiện Nghị quyết số 27- NQ/TW, không xem xét ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách tiền lương hiện hành”. Vì vậy, việc sửa đổi Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg chưa được xem xét, tiến hành trong thời gian qua.
Hiện nay, theo chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Tòa án nhân dân Tối cao được giao chủ trì xây dựng Pháp lệnh về chi phí tố tụng. Tòa án nhân dân Tối cao đang nghiên cứu, phối hợp với các cơ quan hữu quan để đưa vấn đề về chế độ bồi dưỡng của Hội thẩm nhân dân vào trong nội dung xây dựng Pháp lệnh trên. Theo kế hoạch, Pháp lệnh về chi phí tố tụng sẽ được trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong năm 2023.