(Thanhhoa.dcs.vn): Các Bộ: Xây dựng, Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội vừa có văn trả lời cử tri Thanh Hóa gửi tới trước kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV.
*Nội dung kiến nghị Bộ Xây dựng: Cử tri đề nghị trình Chính phủ xem xét, sửa đổi Nghị định số 44/2015/NĐCP ngày 06/5/2015 trong đó có nội dung "UBND cấp huyện có trách nhiệm lấy ý kiến thống nhất bằng văn bản của Sở quản lý công trình chuyên ngành trước khi phê duyệt đối với các đồ án quy hoạch xây dựng thuộc thẩm quyền phê duyệt". Theo quy định tại Khoản 4 Điều 34 Luật Xây dựng quy định: “Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức lập quy hoạch xây dựng có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định trước khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, phê duyệt". Tuy nhiên, trên thực tế đối với cấp huyện, quy hoạch các điểm dân cư nông thôn có quy mô nhỏ, xen kẹt trong các khu dân cư, việc lấy ý kiến của Sở quản lý (Sở Xây dựng) trước khi phê duyệt còn nhiều bất cập, vướng mắc dẫn tới kéo dài thời gian thực hiện.
Bộ Xây dựng trả lời như sau: Về vấn đề này, Bộ Xây dựng hiện được giao là cơ quan chủ trì soạn thảo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn dự kiến trình Quốc hội thảo luận lần đầu tại Kỳ họp lần thứ 7 và dự kiến thông qua tại kỳ họp lần thứ 8 Quốc hội khóa XV. Đối với nội dung kiến nghị nêu trên, Bộ Xây dựng xin ghi nhận ý kiến của cử tri tỉnh Thanh Hóa để nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền trong quá trình dự thảo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn trong thời gian tới.
*Nội dung kiến nghị Bộ Tài chính: Nội dung kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa: “Đề nghị Bộ Tài chính xem xét lại quy định nộp thuế nhập khẩu tại chỗ đối với hàng hóa dùng để sản xuất sản phẩm xuất khẩu, không khuyến khích được doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xuất khẩu, gây bất bình đẳng giữa hàng gia công xuất khẩu và hàng sản xuất xuất khẩu nhất là các ngành dệt may, da giày".
Bộ Tài chính trả lời như sau:
Căn cứ khoản 3 Điều 2 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 quy định “Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ" thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
Căn cứ khoản 7 Điều 16 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 quy định “Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu" thuộc đối tượng miễn thuế nhập khẩu;
Căn cứ khoản 24 Điều 16 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 quy định "Chính phủ quy định chi tiết Điều này";
Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 10, điểm b khoản 2 Điều 12 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4, khoản 6 Điều 1 Nghị định số 18/2011/NĐ-CP ngày 11/3/2021 quy định “Sản phẩm nhập khẩu tại chỗ đăng ký tờ khai hải quan theo loại hình nhập gia công được miễn thuế nhập khẩu nếu người nhập khẩu tại chỗ đáp ứng quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 10 Nghị định này. Sản phẩm nhập khẩu tại chỗ đăng ký tờ khai hải quan theo loại hình khác thì người nhập khẩu tại chỗ kê khai, nộp thuế theo mức thuế suất và trị giá tính thuế của sản phẩm nhập khẩu tại thời điểm đăng ký tờ khai.
Trường hợp người nhập khẩu tại chỗ đã nộp thuế nhập khẩu hàng hóa để sản xuất, kinh doanh đã đưa sản phẩm nhập khẩu tại chỗ vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu và thực tế đã xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài hoặc vào khu phi thuế quan thì được hoàn thuế nhập khẩu đã nộp theo quy định tại Điều 36 Nghị định này”.
Căn cứ các quy định nêu trên, sản phẩm nhập khẩu tại chỗ đăng ký tờ khai hải quan theo loại hình nhập gia công được miễn thuế nhập khẩu nếu người nhập khẩu tại chỗ đáp ứng quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 10 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 18/2021/NĐ-CP. Sản phẩm nhập khẩu tại chỗ đăng ký tờ khai hải quan theo loại hình khác (bao gồm số loại hình sản xuất xuất khẩu) thì người nhập khẩu tại chỗ kê khai, nộp thuế theo mức thuế suất và trị giá tính thuế của sản phẩm nhập khẩu tại thời điểm đăng ký từ khai. Hàng hóa nhập khẩu tại chỗ đã đưa vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu và thực tế đã xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài hoặc vào khu phi thuế quan thì được hoàn thuế nhập khẩu đã nộp theo quy định tại Điều 36 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP.
Quy định nêu tại điểm h khoản 2 Điều 10, điểm h khoản 2 Điều 12 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4, khoản 6 Điều 1 Nghị định số 18/2021/NĐ-CP là phù hợp với: (i) quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 (hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu), khoản 7 Điều 16 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 (khoản này quy định miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu; không quy định miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu tại chỗ để sản xuất hàng hóa xuất khẩu giữa doanh nghiệp doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam và được thương nhân nước ngoài chỉ định giao, nhận hàng hóa với doanh nghiệp khác tại Việt Nam); (ii) quy định tại khoản 24 Điều 16 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 về thẩm quyền của Chính phủ được Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 giao quy định chi tiết Điều 16 về miễn thuế.
Ngoài ra, pháp luật thương mại, pháp luật ngoại thương không có quy định về hình thức xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ và thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ của hàng sản xuất xuất khẩu.
Mặt khác, hàng hóa nhập khẩu để gia công và hàng hóa nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu có sự khác nhau về quyền sở hữu của hàng hóa, cụ thể như sau:
- Đối với loại hình nhập khẩu để gia công (bao gồm nhập khẩu tại chỗ) thì nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công thuộc sở hữu của bên nước ngoài đặt gia công;
Đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu thuộc sở hữu hoàn toàn của doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu có quyền chủ động nguồn hàng (nhập khẩu từ nước ngoài hoặc nhập khẩu từ khu phi thuế quan hoặc nhập khẩu tại chỗ) cũng như chủ động trong lựa chọn phương án bán hàng (xuất bán cho khách hàng ở nước ngoài hoặc xuất bán cho khách hàng trong khu phi thuế quan hoặc xuất bán cho khách hàng theo chỉ định của thương nhân nước ngoài theo hình thức xuất khẩu tại chỗ hoặc thay đổi mục đích sử dụng, tiêu thụ nội địa) để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất.
Quy định tại Nghị định số 18/2021/NĐ-CP về việc nộp thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu nhập khẩu tại chỗ để sản xuất xuất khẩu, sau đó được hoàn thuế nhập khẩu tương ứng với lượng nguyên liệu đưa vào sản xuất, xuất khẩu ra nước ngoài hoặc xuất khẩu vào khu phi thuế quan, vẫn đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp khi nhập khẩu tại chỗ theo loại hình sản xuất xuất khẩu.
Tương tự kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa, trong quá trình thực hiện Nghị định số 18/2021/NĐ-CP, Bộ Tài chính cũng nhận được kiến nghị của các Hiệp hội, Tập đoàn, doanh nghiên về vấn đề này. Để xử lý kiến nghị nêu trên, Bộ Tài chính đã có các công văn số 5529/TCHQ-TXNK ngày 24/11/2021(STT 32), công văn số 3194/TCHQ-TXNK ngày 03/8/2022, công văn số 1320/TCHQ-TXNK ngày 15/4/2022, công văn số 3545/TCHQ-TXNK ngày 07/7/2023 trả lời các doanh nghiệp (công văn kèm theo). Do đó, để thống nhất tổ chức thực hiện, bình đẳng trong thực thi pháp luật giữa các doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu tại chỗ theo loại hình sản xuất xuất khẩu, đề nghị Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa thông tin nội dung trả lời của Bộ Tài chính tới các cử tri, doanh nghiệp để thực hiện theo quy định tại Nghị định số 18/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
*Nội dung kiến nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Đề nghị tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp môi giới xuất khẩu lao động, hiện nay có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, mức thu phí cao so với quy định.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời như sau: Lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. Vì vậy, đây là ngành nghề luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của người lao động và cơ quan quản lý nhà nước.
Thời gian qua, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài:
(1) Sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài: Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (sửa đổi) bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2022, theo đó, tại Điều 7 đã bổ sung chế tài nghiêm khắc, có tính răn đe đối với các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài như: lợi dụng hoạt động để thu tiền của người lao động trái pháp luật, tổ chức xuất cảnh trái phép, mua bán người.
(2) Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài: Từ năm 2017, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ứng dụng Hệ thống Cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, khi các doanh nghiệp thực hiện đăng ký đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải thực hiện đăng ký trực tuyên các thông tin vê điêu kiện làm việc, mức tiền dịch vụ thu từ người lao động, thời gian dự kiến xuất cảnh,... Các thông tin sau khi được phê duyệt sẽ được đăng tải công khai để người dân kiểm tra và theo dõi. Ngoài ra, danh sách các doanh nghiệp được cấp Giấy phép trong lĩnh vực này, địa điếm hoạt động và các thông tin cơ bản đều được Bộ niêm yết trên Công thông tin điện tử của Bộ.
(3) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử phạt nghiêm và thu hồi Giấy phép của các doanh nghiệp vi phạm: Trong năm 2022, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tiến hành thanh tra 13 doanh nghiệp, 02 doanh nghiệp nộp lại Giấy phép; trong 06 tháng đầu năm 2023, Bộ đã tiến hành thanh tra định kỳ 20 doanh nghiệp; xử phạt vi phạm hành chính đối với 09 doanh nghiệp.
Đối với các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, một số tổ chức, cá nhân không được cấp phép hoạt động nhưng lợi dụng, làm “cò mồi, trung gian” để nâng giá dịch vụ, thu tiền trái phép của người lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thường xuyên thông tin rộng rãi về chính sách, pháp luật của Nhà nước và phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an, tư pháp để xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.